“Bệ hạ, Chiêm Thành lại quấy vào biên giới nước ta.”
“Vùng Ma Linh tới Bố Chính vẫn là đất của xứ Chiêm dâng cho ta từ thời Thánh Tông. Nhưng do giao thông khó khăn, rừng thiêng nước độc, đất đai khô cằn khó trồng trọt, dân ta chưa tới khai khẩn, ở đó đa phần vẫn chỉ có dân Chiêm và quân đội đồn trú thôi ạ.”
Vị quan đọc xong tờ tấu thì lấm lét nhìn tôi và mẫu hậu.
“Lý nào lại như thế?” Tôi xoa trán. “Thái úy, chuyện này là thế nào?”
“Hồi bệ hạ,” Lý Thường Kiệt tâu. “năm xưa, thần và tiên đế đã từng dừng thuyền ở vùng ấy sau khi bắt được Chế Củ. Đúng như trong báo cáo, vùng ấy rừng thiêng nước độc, cọp beo hoành hành. Không thể đến ở được.”
“Vô lý!” Tôi đập tay lên tay vịn của bảo tọa. “Nằm trong cương thổ nước ta mà dân ta lại không thể đến ở, thế xương máu binh sĩ năm đó đổ xuống há chẳng vô ích sao?”
“Thần biết tội.” Lý Thường Kiệt quỳ xuống.
“Tâu bệ hạ.” Lý Đạo Thành chỉnh lại chiếc kính và nói đỡ cho đồng liêu. “Trong chuyện này Thái úy không có lỗi. Đất không trồng trọt được thì dân có tới ở cũng không biết lấy gì mà sống. Mà như thế thì triều đình cũng không thu được thuế đâu ạ.”
Tôi liếc sang mẫu hậu, bà nhìn ánh mắt tôi và thở dài thườn thượt đồng thời gật đầu ra hiệu chấp thuận.
“Nhưng không được đưa An Dân đi đâu đấy.” Mẹ tôi nhắc thêm.
Và thế là tôi lại thân chinh trong bí mật.
-
Dưới sự chỉ huy của Lý Thường Kiệt, quân ta nhanh chóng đẩy lui quân Chiêm Thành và tấn công vào thành trì địch quân. Quân Chiêm Thành chống trả quyết liệt nên phía ta cũng chẳng lấn thêm được tấc đất nào.
Tôi leo lên một ngọn núi nhìn ra những cánh rừng xanh mơn mởn, những đàn chim bay lượn, tiếng dã thú văng vẳng ở phía xa. Một cảm giác hoang sơ và thiếu hẳn dấu hiệu của nền văn minh.
“Bệ hạ xem,” Lý Thường Kiệt khua tay về phía những ngọn núi. “rừng rậm bạt ngàn. Sông ngòi tuy nhiều nhưng địa hình không bằng phẳng, khó trồng trọt. Chưa kể đến thời tiết thất thường nữa.”
“Thái úy này,” Tôi ngơ ngác gọi Lý Thường Kiệt trong khi mắt nhìn xa về phía những ngọn núi điệp điệp trùng trùng. “phía tây vùng này có nước nào?”
“Hồi bệ hạ,” Lưu Khánh Đàm đáp thay. “phía tây vùng này chỉ có những bộ tộc người man. Lúc trước sống ở miền nam Trung Hoa. Nhưng vì dân số người Hán tăng mạnh, lại thêm các vấn đề nội bộ của Nam Chiếu với Tống nên họ đã dần di cư xuống vùng núi này.”
“Liệu, họ có biết đến muối không?”
Hai người họ nhìn nhau, bốn con mắt sáng ngời lên.
“Nhưng bệ hạ,” Một người đương độ trung niên hỏi tôi. “nếu chỉ có như thế thì vùng này thực sự cũng quá nghèo nàn rồi ạ.”
“Ngài là ai thế?” Tôi ngớ ra hỏi. Ông ấy có hàm râu xuề xòa lâu ngày không cắt tỉa cùng cái trán gần hói. Trong tay ông ta là một cuốn sổ và bút, giắt bên thắt lưng không phải bội kiếm hay quạt xếp mà là một cây thước đo góc. Đôi mắt như muốn lồi ra khỏi hốc mắt trông rất hung dữ. Nhưng tôi không quen ông ta.
“Bệ hạ, đây là Ninh Chí An người Thiên Trường, là một kiến trúc sư. Hiện là môn khách của thần. Lần này thần dẫn ông ấy đi cùng để thực hiện công tác đo đạc và vẽ bản đồ ạ.” Lưu Khánh Đàm lên tiếng.
“Ninh Tiên sinh,” Tôi gọi ông. “Nếu chỉ có mỗi việc buôn muối cho các dân tộc miền núi kia thì phụ hoàng trẫm đã chẳng lặn lội tới tận đây đánh giặc đâu.”
“Thần ít học,” Ninh Chí An quỳ xuống. “nếu có lời không phải, xin bệ hạ xử tội.”
“Bệ hạ,” Lưu Khánh Đàm cũng quỳ xuống. “môn khách của thần không hiểu lễ nghi, hoàn toàn không có ý bất kính. Xin bệ hạ thứ tội.”
“Không sao đâu.” Tôi đỡ hai người họ dậy. “Nhưng mà, muốn trẫm thứ tội thì,” Tôi hằng giọng. Lâu lắm mới được dịp lên mặt với mấy lão già mà không có mẹ ở bên cạnh nhắc nhở, tôi phải tranh thủ. “kiến trúc sư, ta có thể nhờ ngài xây dựng cảng biển ở đây được không?”
“Cảng ạ?”
“Trẫm học được ở một số sách phương Tây, ở đó họ xây dựng nên những cảng biển sầm uất lắm. Nếu có các cảng biển lớn, thương nhân sẽ đổ tới nhiều hơn, và kinh tế nước ta sẽ càng phát triển.”
“Chúng thần tuân chỉ!” Lưu Khánh Đàm và Ninh Chí An đáp.
“À, Lưu Thị lang.” Tôi gọi vội khi hai người họ vừa quay đi.
“Bệ hạ có gì căn dặn?” Lưu Khánh Đàm quay lại.
“Ta bảo để Ninh Chí An phụ trách xây cảng, chứ không nói anh.”
“Bệ hạ cần gì sai bảo?” Lưu Khánh Đàm chắp tay.
“Sau khi có cảng thì ta cần có tàu thuyền.” Tôi chống tay lên thân cây bên cạnh mình. “Phiền Thị lang cho người đốn những cây tốt này và bắt đầu công tác đóng tàu nhé.”
“Cây… tốt?” Anh ta lại tròn mắt nhìn tôi.
“Trong nhà anh có hẳn một kiến trúc sư mà không biết à?” Tôi vuốt ve thân cây bên cạnh mình. “Gỗ táu tuy không quý như gỗ lim, nhưng là loại chuyên để đóng tàu thuyền đấy.”
-
Tôi tạm cho Ninh Chí An chức Viên ngoại lang để tiện việc xây dựng. Đồng thời tôi cũng ở lại vài ngày để giám sát.
Mang tiếng là giám sát chứ thực ra thì tôi đang muốn tránh xa cái cung điện ngột ngạt kia. Lâu lâu trốn khỏi cung đi chơi cũng vui mà. Tôi ngồi chơi cờ với Lưu Khánh Đàm vừa uống trà trong doanh trướng. Tôi đang tính chiều nay sẽ đi săn hay làm gì đó cho khuây khỏa. Nhắc đến săn bắn, em trai tôi bắn cung rất giỏi dù thằng bé mới có sáu tuổi rưỡi, chỉ dùng được loại cung tên nhỏ, nhưng chưa bao giờ tôi thắng được nó.
Sẵn đang khoe về em trai, tôi cũng phải khoe về bản thân mình. Sau một thời gian luyện cờ với Lê Văn Thịnh, tôi khá là tự tin khả năng đánh cờ của mình không thua các kiện tướng đâu. Nhưng tôi vẫn không phải đối thủ của Lưu Khánh Đàm. Anh ta tung ra từng nước cờ hóc búa khiến tôi toát mồ hôi.
Khi đang bí nước thì tiếng huyên náo ở bên ngoài đã cứu tôi.
“Có gì mà ồn ào thế nhỉ?” Tôi đi ra xem xét. Lưu Khánh Đàm cũng biết ý nên cũng dẹp bỏ bàn cờ vây và đi theo.
Bên ngoài doanh trại, một đám dân mặc trang phục người Chăm đang làm ầm ĩ lên. Phụ nữ mặc những chiếc đầm dài màu trắng và đội khăn, đàn ông mặc trang phục màu đen và có giắt vũ khí thô sơ bên hông, liềm gặt hoặc dao mổ. Tôi từng thấy những cảnh như thế này trên TV, trong các chương trình thời sự ở nước ngoài thường có các cuộc biểu tình với băng rôn khẩu hiệu gần giống thế này.
“Có chuyện gì ở đây thế?” Tôi hỏi.
“Bệ hạ,” Một người lính nói. “chỗ này rất nguy hiểm, bệ hạ xin hãy quay về trướng đi ạ.”
“Là vua Đại Việt!”
“Đó là vua Đại Việt!”
“Đồ ác ôn!”
“Các vị bá tánh!” Lưu Khánh Đàm hét lớn. “Người đang đứng trước mặt các vị đây, là hoàng đế bệ hạ của nước Đại Việt!” Anh ta vái người về phía tôi.
“Chỉ là một đứa trẻ thôi!”
“Lũ người Việt các ngươi chỉ dám lấy một đứa trẻ ra để làm bình phong cho mình thôi sao?”
“Lũ bỉ ổi!”
Đám đông lại gào thét. Lẫn trong đó có những từ ngữ thô tục đến mức bị kiểm duyệt. Nhưng chủ yếu vẫn là chửi thề bằng tiếng Chăm.
“Các vị!” Tôi hét lớn và vẫy tay ra hiệu. Lưu Khánh Đàm hiểu ý và công kênh tôi lên vai. “Ta là Hoàng đế của Đại Việt. Nếu các ngươi đang có bất mãn điều gì, hãy cử ra đại diện tới gặp ta! Đích thân ta sẽ giúp các ngươi giải quyết!”
“Một đứa nhóc như mày thì làm được gì hả!?”
“Nó chỉ là một đứa trẻ thôi!”
“Hỗn láo!” Lưu Khánh Đàm mắng. “Đương kim thánh thượng của chúng ta, là do thần tiên phái xuống trần để cứu dân độ thế. Dẫu ngài mang thân xác một đứa trẻ, ngài cũng là thiên tử!”
Tôi nhìn những khuôn mặt phẫn nộ của những người Chăm trước mặt. Trong tương lai thì họ cũng chẳng còn đất nước nữa rồi, nhưng bây giờ tôi mà nói ra thì người bị treo cổ chắc chắn là tôi. Trường hợp này khác với việc đánh Tống. Khi Lý Thường Kiệt bắc chinh là để ngăn chặn cuộc tấn công của kẻ thù. Còn đây, đây chính xác là một cuộc xâm lược. Tôi không thể làm cỏ đám người trước mặt mình được.
“Các vị, dù ta chỉ là một đứa trẻ. Nhưng ta vẫn là Hoàng đế. Ta biết các ngươi là người Chiêm, có phong tục riêng, tín ngưỡng riêng khác với người Việt. Nhưng bây giờ nơi đây là lãnh thổ của Đại Việt. Các ngươi sống trên đất của ta, thì các ngươi là con dân của trẫm. Trẫm sẽ đối xử với các khanh một cách công bằng, bình đẳng và bác ái.”
Đám người Chiêm lại xôn xao bằng tiếng Chăm.
Cuối cùng, họ cử ra một đại diện bước tới trước mặt tôi.
Chàng thiếu niên người Chăm bước qua cổng doanh trại và cúi xuống nhìn tôi, hai tay anh bắt chéo trước ngực theo kiểu Wakanda forever. Tôi cũng chắp tay chào lại.
Gã thiếu niên trông khoảng mười lăm mười sáu tuổi cao hơn tôi hẳn một cái đầu và có một mái tóc đen cắt ngắn hơi xoăn trên nước da rám nắng trông vô cùng mạnh mẽ. Anh ta đeo một chiếc bịt mắt màu đen che đi con mắt phải, trông như một tay hải tặc lão luyện. Con mắt trái còn lại của anh ta toát ra một khí thế ngút trời, hoàn toàn không chút sợ sệt hay phẫn nộ như những người Chăm kia.
“Mà nếu được mấy người dân kia cử làm đại diện thì chắc là anh ta cũng có chút uy tín. Có thể là nhân vật có chút tiếng tăm ở địa phương.”
“Người anh em,” Tôi đưa tay về phía doanh trướng. “mời vào.”
“Ninh Chí An đang cho phá các công trình của các ngươi sao?” Tôi hỏi khi tất cả đã yên vị trong quân doanh. Tên người Chăm quỳ giữa lều, hai bên là một số tướng tá và quan viên. Ninh Chí An cũng đang ở đây. Khi tôi nhìn sang ông ta thì ông ta cũng đang hoang mang lắm.
“Vâng.” Anh chàng người dân tộc đáp, dù ở giữa lòng địch nhưng trông anh ta chẳng nao núng chút nào. “Đó là những công trình được xây dựng từ thuở lập quốc và giữ nước của chúng ta. Là chứng tích lịch sử cho những lần phản Hán chống Đường và cả những trận chiến với người Việt các ngài. Tuy không nhiều nhặn gì, nhưng đó là những gì tổ tiên chúng ta để lại.”
“Bệ hạ,” Chí An lên tiếng. “Nếu muốn xây dựng cảng biển ở đây thì cần phải bỏ một số công trình cũ kỹ vô nghĩa và vô dụng. Nếu không sẽ không thể xây công trình mới được ạ.”
“Vô nghĩa? Vô dụng?” Gã người Chăm lặp lại cứ như không hiểu nghĩa của hai từ đó. “Mi còn phá cả đền thờ của chúng ta nữa.”
“Đó là thứ dị giáo, không thể để nó manh nha trong đất nước này được!”
“Thế mà là bao dung sao? Các ngươi chỉ đang muốn đồng hóa chúng ta mà thôi, các ngươi chẳng khác gì lũ người Hán kia cả!”
“Các ngươi còn thấy trẫm đang ngồi đây không!?” Tôi đập bàn.
“Bệ hạ bớt giận.” Lưu Khánh Đàm dâng trà cho tôi.
“Người anh em,” Tôi gọi anh chàng người Chăm. “ta hiểu vấn đề của các anh.” Tôi quay sang Chí An. “Ninh Viên ngoại, các kiến trúc tôn giáo và những công trình mang ý nghĩa lịch sử, giữ chúng lại.”
“Đội ơn bệ hạ!” Anh ta lạy tôi liên tục.
“Nhưng bệ hạ,” Chí An tâu. “nếu thế thì sẽ không có đủ không gian để xây dựng kho bãi và các công trình dân sinh đâu ạ.”
“Chúng ta có thể tìm nền móng cũ của các công trình lớn và xây dựng trên đó. Về chuyện bến cảng, ta nghĩ, nếu có thể thì hãy tìm khu vực có nước sâu để tiện cho thuyền bè cập cảng.”
“Nhưng bệ hạ, nếu thế, ta sẽ bị xem là nhu nhược với ngoại giáo mất.”
“Ninh Viên ngoại, có ba thứ ngài không thể vô lý cướp đoạt đi của người dân.” Tôi đưa ba ngón tay về phía ông ta. “Đó là tính mạng của họ, tài sản của họ, và lòng tự tôn của họ. Nếu mất đi một trong ba thứ ấy, nhân dân sẽ không bao giờ tha thứ cho kẻ cầm quyền.” Tôi đọc y lời Lê Văn Thịnh đã dạy tôi lúc đi Tống. Dù hiện tại anh ta đang bận tối mắt ở sông Như Nguyệt.
“Nhưng bệ hạ, nếu không phá bỏ một số công trình, ta sẽ thiếu đất đai để xây dựng. Các kho bãi, quân doanh, rồi xưởng tàu… cả chùa chiền nữa. Sẽ mất rất nhiều thời gian và cả ngân sách…”
“Trẫm hiểu, tiền bạc và thời gian vô cùng đáng quý. Nhưng làm sao đáng quý bằng người dân? Ta thà để mất tiền của và mười năm, hai mươi năm cuộc đời, còn hơn là nhận lấy sự bất mãn từ bách tính của chính mình.”
“Ninh Viên ngoại, ngài là một kiến trúc sư tài ba.” Lưu Khánh Đàm tiếp lời tôi. “Nhưng đây không còn là vấn đề kiến thiết đô thị nữa, mà là xây dựng quốc gia. Chính trị gia bọn ta cần mang tầm nhìn của mười năm, một trăm năm. Còn ngài, ta cần ngài cho ta các công trình có thể tồn tại một nghìn hai nghìn năm. Khi mộ của chúng ta đều đã xanh cỏ, thì các công trình ấy vẫn còn vững vàng. Đó mới là việc của ngài. Còn điều khiển đất nước, chèo lái con thuyền này, là việc của chúng ta.”
Theo như sách sử mà tôi học thì việc đồng hóa dân tộc khác là việc đã diễn ra suốt hàng nghìn năm nay. Người Hán đã đồng hóa các dân tộc xung quanh mình, tạo ra một nền văn hóa rực rỡ và huy hoàng trên đồng bằng Hoa Hạ. Tôi đã nghĩ đó là lẽ thường tình.
Nhưng với tâm hồn của con người thời hiện đại và trí óc của một con người sinh ra vào thế kỷ XXI, tôi biết tương lai đất nước tôi sẽ có đến năm mươi tư dân tộc anh em với những bản sắc và tín ngưỡng riêng. Cụ cố, ông nội và cha tôi đã có thể giữ cho các bộ tộc miền núi kia thần phục và khiến họ phải giúp chúng tôi đánh giặc, thế mà tôi không thể thu nhận những con người miền nam này thì sao dám ngồi trên ngai vàng kia và nhận mình là con trai của vua Lý Thánh Tông anh hùng?
“Ra là thế.” Gã người Chăm cười khùng khục. “Ra đây là lý do chúng ta không thể đánh bại được Đại Việt.”
“Ngươi làm sao thế?” Tôi hỏi.
“Ồ, lỗi của ta.” Hắn đứng dậy, bàn tay phải đặt lên ngực trái. “Tên ta là Jal. Nói theo ngôn ngữ của các ngài thì, ta là hoàng tử của Chiêm Thành.”
