- Thằng Lĩnh đâu, mày lại giở cái trò gì ra nữa đây, tao vằm mày ra.
Tiếng thét lanh lảnh giận dữ xé toạc buổi trưa một ngày mùa đông ấm áp hiếm hoi tại vùng quê thanh bình. Từ trong gian bếp khói tỏa trắng phau đang lan man òa trên lớp mái như những áng mây bồng trên trời đông xà xuống đậu trên những cọng rơm rạ xỉn màu năm tháng, một người đàn bà tức tối lao ra ngoài sân, trên tay lăm lăm con dao to bản, mặt mũi bà lem luốc, đỏ bừng vì bực tức. Ngay lúc đó, từ phía gian nhà khang trang bên trên, một cậu nhóc chừng sáu bảy tuổi tất tả lao ra sân, gương mặt lem nhem bụi bặm nhưng không làm mất đi vẻ khôi ngô, đôi mắt sáng quắc tinh anh, cậu bé hớt hải chạy về phía người đàn bà, cất giọng lo lắng:
- Chuyện gì vậy thím?
- Tao vằm mày ra bây giờ, mày nhìn đi, mày làm gì với con dao thái chuối của tao này, xem nó đã thành cái cưa hay chưa, sứt mẻ, cong queo hết cả rồi. Tao lấy gì mà thái rau nữa đây.
Ra vậy, thằng bé khẽ thờ phào, mặt ửng đỏ bẽn lẽn, cu cậu hạ giọng lễ phép:
- Thím đưa đây con mang ra lão Vồng thợ rèn để rèn lại.
Bà thím chém chém con dao sứt mẻ trước trán thằng bé:
- Cái loại ăn hại, thằng bố con mẹ mày đã không chịu nổi mày, tống cái của nợ này về cho tao, mày đã không biết điều mà học hành cho đàng hoàng, suốt ngày lêu lổng.
Mặt thằng bé đột nhiên đanh lại, nó rành rọt từng tiếng:
- Thím đưa đây con mang đi sửa.
Trời đang nắng hanh như bất chợt phủ chụp xuống một màn sương buốt giá, bà thím bỗng thấy lưng mình lạnh toát, bà rùng mình nhìn lại, thằng bé trước mặt như hóa thành bức tượng băng, khắp người nó phủ một lớp âm khí lạnh lẽo, u ám, độc ác và đầy sát khí. Hai cánh tay bà thím nổi da gà, lông tóc như dựng đứng lên, bà sợ hãi nén lòng cho tiếng rên khỏi bật ra qua vòm miệng, cố gằn lên giọng:
- Không sửa được mày chết với tao.
Nói rồi bà quay gót đi thẳng vào bếp, chân vừa bước mà lòng cứ run từng cơn. Vào đến gian bếp khói mù mịt bà mới thấy hoàn hồn. Sao thế nhỉ?, cái khoảnh khắc vừa rồi tựa như bà đang đứng ở trên đỉnh đồi nắng gió rồi bị hẫng chân rơi thụt xuống hố sâu thăm thẳm, ớn lạnh, u uất và đơn độc, xung quay đầy tử khí, chết chóc. Bà thím rùng mình cái nữa rồi trở về trạng thái bình thường, bà ngồi thụp xuống thổi phù phù vào cái bếp đang khói um.
Ngoài sân, thằng bé sau khi đón con dao sứt mẻ bèn quay người chạy tót ra ngoài cổng, nó chạy một lèo đến giữa làng, vào thẳng cái gian lò rèn của lão Vồng. Lão Vồng mồ hôi mồ kê nhễ nhại đang loay hoay chất lò, xung quanh ngổn ngang củi than, phía trên tường treo lủng lẳng các loại liềm, dao, cuốc xẻng. Lão Vồng tuổi cỡ ngoài năm mươi, gầy gò nhưng săn chắc, da đen nhẻm, tóc đã bạc nửa đầu, búi thành một búi to trên đầu. Nhìn thấy thằng bé, lão Vồng nói:
- Tao quạt lò, máy cho củi và rơm mồi vào lò hộ tao.
Thằng bé nói:
- Ông sửa cho cháu con dao này, cháu sẽ cho người hàng ngày đến chất lò rồi quạt lò cho, ông chỉ cần rèn thôi.
- Mẹ ranh con, nói phét, mày làm chả xong, sai được ai.
- Được rồi.
Thằng bé nói cụt lủn rồi vứt con dao lên cái đe to, xong lại quay người nhằm phía cánh đồng cắm cổ chạy, lão Vồng nhìn theo lắc đầu cười khổ.
Thằng bé chạy đến rặng tre, đây là là một bức tường rào thiên nhiên vững chắc, ngăn cách giữa cánh đồng và làng xóm thì đã thấy, ngay trước cổng ra cánh đồng đã có bốn thằng bé khác đang ngồi quây thành vòng trong dưới bóng mát của rặng tre. Bọn chúng đang xuýt xoa bóc khoai lang nướng, nhai nhồm nhoàm, thổi phù phù, mặt mũi thằng nào cũng lem luốc nhưng thần thái sảng khoái, chúng cười khanh khách trêu đùa nhau. Thằng Lĩnh chạy tới xà ngay xuống, thò tay nhón củ khoai nướng đen nhẻm trên vạt lá chuối xanh nhắt, vừa lăn qua lăn lại hai tay vì nóng, vừa bóc cái vỏ cháy đen vừa ăn. Một thằng nhóc hỏi:
- Xong hết chưa mày?
Thằng Lĩnh nhồm nhoàm, nói lụng phụng với mồm đầy khoai:
- Xong hết rồi, tao quên mẹ con dao, suýt bị bà thím tẩn cho một trận, nào giờ lên đường, không sửa được con dao thì tao không dám về.
Cả bọn đứng dậy, chạy vào rặng tre lôi ra mỗi thằng một cây gậy tre to cỡ cổ tay, dài chừng sải tay, các cây gậy này đã được đẽo gọt hết các mấu.
Thì ra là vậy, sớm nay cu Lĩnh nhận nhiệm vụ chế tạo cho mỗi thằng một cây gậy nên cu cậu vác con dao thái rau của thím ra rặng tre, chặt các cây tre rồi đẽo gọt thành năm cây gậy, cậu làm xong bèn vùi đám gậy vào bụi tre đầu cánh đồng rồi về nhà cất dao, cu cậu đinh bụng, làm xong việc thì sẽ mang dao đi rèn lại, ai ngờ bà thím hôm nay lại có việc gì dùng đến dao sớm thế nên cậu suýt bị ăn đòn.
Năm thằng nhóc vác gậy tre lên vai, hùng dũng dàn hàng ngang trên con đường ra cánh đồng, hai bên đường, những thửa ruộng lúa bát ngát đang vào kỳ trổ đòng, hương lúa non thơm ngào ngạt. Từng đàn sáo sậu bay lượn kêu rạc cổ, bọn nhóc đi qua cánh đồng, rồi bắt vào con đê cao. Lúc này không phải vào mùa con nước nên nước sông tụt xuống gần đáy, từ trên đỉnh đê xuống đến mặt nước thấy sâu thăm thẳm. Bọn nhóc mặc quần cộc và áo dài cài kín cổ, trông thật lạ lùng và tức cười.
Đến khoảng đê rộng ra to như mấy cái sân đình, có mấy cây đa và cây gạo cổ thụ xòa bóng che mát một khu, bọn nhóc dừng lại. Trải khắp hai bên triền đê, có đến hai chục con trâu đang nhẩn nha gặm cỏ. Dưới một gốc đa cổ thụ, có khoảng hơn chục thằng nhóc đang nô đùa chí chóe.
Cu Lĩnh phẩy tay, năm thằng chẳng nói chẳng rằng vác gậy tre lao vào đám nhóc kia. Cả một vùng náo loạn, tiếng khóc, tiếng thét, tiếng chửi ẩm ỹ. Năm thằng như năm con hổ đói xâu xé đàn cừu nón, chúng phang, chúng quật, đám đá túi bụi đám nhóc kia, không cần biết bọn kia đông gấp mấy lần chúng. Nhiều thằng ăn vài ba gậy trán sưng môi tều, khóc ngất lăn ra một góc ôm đầu, ôm chân. Loáng cái cả gần chục thằng đã bị loại khỏi vòng chiến, chỉ còn khoảng năm thằng lớn tuổi hơn, chân tay dài hơn là đang đấu lại với năm cu nhóc cầm gậy tre. Hai bên thế quân bình, một thằng lớn bị Lĩnh phang một gậy vào vai ngã quay ra, nó lộn vài vòng, rồi nhổm dậy ngay cạnh một khúc cây. Thằng nhóc liền nén đau nhặt khúc cây lao vào phang Lĩnh. Bộp bộp, nó phang hai nhát ngang sườn Lĩnh nhưng lại nghe thấy tiếng bộp bộp. Thì ra đám cu Lĩnh đã có chuẩn bị trước, bọn chúng quấn mo cau quanh thân thành những bộ giáp rồi mặc áo ngoài cài kín. Thảo nào trông bọn chúng lại đoan trang như đám học trò. Thằng kia phang hai nhát mà không thấy đối thủ đau đớn gì thì thoáng thần người, lợi dụng ngay khoảnh khắc đó, Lĩnh phang tới tấp, tên kia vứt gậy ôm đầu kêu oai oái rồi lăn xuống xin tha mạng. Gần như ngay khoảnh khắc ấy, đám bạn của Lĩnh cũng đã hạ gục mấy thằng to con kia, bọn trẻ khóc như ri, luôn mồm xin hàng, Lĩnh ngửa mặt lên trời cười sằng sặc, nó giơ tay vuốt mặt, khuôn mặt bỗng trở lên loang lổ máu tươi vằn vện, trông thật đáng sợ. Lĩnh nhổ toẹt bãi nước bọt ngầu ngầu máu rồi cất giọng nói lớn:
- Tao là Đinh Bộ Lĩnh, tao là Hoàng đế. Thằng này là Đinh Điền, nó là Đại tướng quân, thằng này là Nguyễn Bặc tể tướng, thằng này là Lưu Cơ thái sư, còn thằng này là Trịnh Tú thượng thư. Chúng mày đã chịu đầu hàng bọn tao chưa.
Đinh Điền, Nguyễn Bặc, Lưu Cơ, Trịnh Tú vác gậy lên vai hùng dũng bước lên trước dàn hàng ngang trước mặt Bộ Lĩnh.
Đám nhóc kia lăn lê bò toài khóc lóc rên rỉ, luôn miệng kêu hàng.
Đinh Bộ Lĩnh và đám bạn của hắn đều là con cháu của các quan chức triều đình, nên chúng thường xuyên được nghe các bậc cha chú làm quan trong triều nói chuyện, bàn bạc thì cũng lõm bõm hiểu được Hoàng đế là người to nhất, sau đó là các quan Đại tướng quân, Tể tướng, Thái sư, Thượng thư gì gì đó nữa.
Hàng ngày đám nhóc này chơi đùa với nhau thì Bộ Lĩnh luôn xưng là Hoàng đế và ban tước cho bốn người bạn. Chúng chơi chán với nhau thì sinh ra ý tưởng, hễ đã có Hoàng đế thì phải có dân, mà có tướng thì phải có quân, nên bàn nhau đi thu nạp dân và lính. Chúng thấy đám con nhà nông nghèo, đi chăn trâu cắt cỏ thuê hay tụ tập cho trâu ăn cỏ ở triền đê rồi xúm lại đánh ô ăn quan ở gốc cây đa, nên lập mưu đi thu phục. Mất cả tuần trời tập luyện và chuẩn bị, hôm nay chúng chính thức ra tay, nào ngờ chỉ có năm thằng lỏi con mà đánh cho gần hai chục thằng tan tác, trong số đó lại còn có mấy thằng cao hơn hẳn bọn chúng cái đầu cũng bị chúng nện cho tơi tả.
Đinh Điền bắt bốn thằng to khỏe nhất của đám bại trận kia lấy gậy đan vào thành kiệu, rước Bộ Lĩnh ngồi lên rồi cả bọn lật đật về làng. Chúng để lại khu đê năm sáu thằng nhóc yếu đuối để chăm lo đàn trâu, còn đâu rồng rắn theo kiệu đi hết. Kiệu đi trước, đám bại binh nhếch nhác theo sau, vừa đi vừa rên la khóc lóc, thằng sứt đầu thằng tều môi, máu me trộn nước mắt lem nhem hết các khuôn mặt ngây thơ đến tội nghiệp.
Qua một khúc đê có một bãi lau trổ bông trắng muốt dập dìu trải dài tuốt xuống tận mép sông, Nguyễn Bặc giơ tay ra hiệu, y quát lớn:
- Dừng kiệu.
Cả đoàn quân dúi dụi vào nhau, Nguyễn Bặc trỏ vào bãi lau ra lệnh:
- Bọn mày xuống kia vặt bông lau cắm vào kiệu cho Hoàng đế, mỗi thằng phải cầm một bó làm cờ, chúng ta hành quân về làng.
Khắc sau, một rừng lau rùng rùng di chuyển trên triền đê, được một quãng, thằng khiêng kiệu tên Tuấn mếu máo:
- Mỏi quá, mày xuống đi một lúc, tý nữa khênh được không.
“Cốp”- Bộ Lĩnh khẻ một gậy vào đầu Tuấn rồi quát:
- Phải gọi tao là Hoàng đế.
Tuấn xoa đầu lầm bầm:
- Bẩm Hoàng đế, kiệu chỉ khênh vào chầu, còn giờ đi hành quân thì Hoàng đế phải đi tiên phong.
Bộ Lĩnh nghe bùi tai nhảy xuống, quấn mấy cành lau vào cây gậy rồi giơ cao:
- Tất cả chúng mày theo tao.
Cả bọn rồng rắn kéo đi, loáng cái đã về đến xưởng rèn của lão Vồng. Lúc này lão Vồng đã chất xong lò, đang nhễ nhại dập dập cái cần thổi gió. Bộ Lĩnh nói:
- Ông để bọn cháu thổi gió.
Nói rồi nó sai hai thằng khỏe nhất ra dập cần thổi gió. Đám quan tước như Tể tướng, tướng quân, Thượng thư thì thay nhau chia đám bại binh kia thành từng nhóm nhỏ, mỗi nhóm một việc, đám dọn nhà, đám chẻ củi, đám quét sân, đám đút than vào lò….
Loáng cái lò than đã hồng rực, lão Vống khoái chí cười khà khà rồi mang con dao của Bộ Lĩnh ra rèn lại.
Nhận lại con dao đã được rèn lại sáng loáng, sắc lẻm, Lĩnh tập hợp toàn quân lại rồi tuyên bố.
- Bắt đầu từ ngày mai, đầu canh năm chúng mày phải có mặt ở gốc đa bờ đê bái kiến Hoàng đế. Tao sẽ phong quan cho chúng mày rồi đi làm nhiệm vụ.
Lũ trẻ nhanh chóng giải tán, Bộ Lĩnh mang dao về nhà cho thím. Nhìn thấy thằng cháu mặt mũi tím bầm sưng vều, máu còn nhểu ra từ khóe miệng, bà thím chuyển từ giận sang thương. Lôi ra giếng nước, bà lau chùi cho nó, vừa lau vừa lầm bầm chửi rủa.
Bộ Lĩnh biết, bà thím là vợ tư của chú nó, khẩu xà tâm phật, miệng lem lẻm chửi bậy suốt ngày nhưng là người thương nó nhất. Ông chú thì có chức quan nhỏ nhưng khệnh khạng như quan phụ mẫu toàn dân, mở mồm ra là nói chữ thánh hiền, nhưng keo kiệt và bẩn tính, máu gái và mê rượu.
Bộ Lĩnh vốn là con trai của viên mãnh tướng oai danh bậc nhất dưới trướng hào trưởng Dương Đình Nghệ, gia sản ngàn vàng, những tưởng là quý tử của quan thứ sử thì sẽ ăn bát vàng đũa bạc, mặc áo gấm nệm êm, trên có trăm người hầu, dưới có ngàn kẻ hạ. Nhưng không, Bộ Lĩnh lại chẳng được như vậy, tất cả chỉ bởi vì mọi người đều nói cha của nó là một lão võ quan mê tín đến dị đoan.
Thiên hạ lan truyền một câu chuyện rằng, khi mẹ nó đang còn mang thai nó thì cha nó đã đi xem bói, thầy phán rằng phu nhân sinh ra ác tử, nghịch tử. Lão lấy làm chán ngán, chỉ muốn một kiếm đâm thủng bụng phu nhân, nhưng đương nhiên đó chỉ là ý nghĩ điên rồ lúc cáu giận, thân làm tả tướng quân, ông không thể tùy tiện hành động vậy được. Cái thai ngày càng to thì sự nghiệp quan trường của ông càng lận đận, ngày sinh ra Bộ Lĩnh cũng là ngày ông bị trách phạt. Vì vậy ông càng tin tưởng rằng Bộ Lĩnh chính là cái họa giáng xuống cho sự nghiệp của ông.
Khi Bộ Lĩnh tròn tháng tuổi, lão bèn gửi cả hai mẹ con về cho vợ chồng em trai đang giữ một chức quan nhỏ ở quê chăm nom giúp, kèm theo cả kho châu báu. Coi như tống xong cái của nợ đi cho khuất mắt. Mà hình như ngũ hành cha con xung khắc thật, nên sau khi mẹ con Bộ Lĩnh rời đi, quan lộ của ông ngày càng thênh thang, khiến ông càng tin tưởng hơn vào quẻ bói năm xưa, và tuyệt nhiên ông không đả động gì đến mẹ con Bộ Lĩnh nữa, chỉ hàng tháng gửi ngân lượng về cho chú em, coi như trả công nuôi nấng hộ hai mẹ con.
Bà mẹ Bộ Lĩnh bị chồng ruồng bỏ ra mặt thì sinh u uất, sau khi cai sữa cho con xong thì người cứ thơ thơ thẩn thẩn, suốt ngày gõ mõ tụng kinh. Người chú thấy vậy bèn cất cho một gian nhà nhỏ sạch sẽ cuối vườn, từ đó mọi người gần như chẳng còn thấy bóng của bà nữa. Bộ Lĩnh có hai người mẹ, một người thì u uất, một người thì chanh chua đanh đá, và người chú như cha suốt ngày huênh hoang rỗng tuếch. Bộ Lĩnh được chăm bẵm hàng ngày nhờ một tay bà thím gắt gỏng nhưng tốt bụng này.
Cơm xong Bộ Lĩnh rúc vào lòng mẹ ngủ ngon lành, bà mẹ vuốt con trai một cách vô thức, mắt vô hồn nhìn xa xăm và cất những câu ca ru não nề “ anh mê vợ bé bỏ bè con thơ…à ơi… con thơ tay ẵm tay bồng…à ơi tay dắt mẹ chồng, đầu đội thúng bông… à ơi”
Chợt ngoài ngõ có tiếng lao xao, rồi tiếng trẻ con cất lên lanh lảnh:
- Lĩnh ơi, Lĩnh ơi.
Bộ Lĩnh choàng dậy, nó xoa nhẹ tay lên vai mẹ rồi chạy thẳng ra cổng, ngoài đó đã lố nhố chục thằng, Nguyễn Bặc tể tướng bước tới khoác vai Bộ Lĩnh nói nhỏ:
- Mày vừa thu phục được thần dân, chúng ta vừa thắng trận, nên phải tổ chức khao quân và phân chia công việc, phân bổ quan lại cát cứ các vùng miền.
- Ồ, phải đấy, phải đấy, nhưng làm thế nào bây giờ?
- Bọn tao bàn nhau rồi, nhà mày giàu, mày xin mẹ ít tiền ra chợ mua chục cân thịt khao quân.
Bộ Lĩnh ngẩn ra một khắc rồi nó dứt khoát:
- Không phải mua đâu, chuồng lợn nhà tao có năm con lợn be bé, bắt một con là đủ.
Loáng cái bọn trẻ đã trói ngược bốn chân con lợn rồi xiên vào đòn tre gánh ra gốc đa giữa đê. Vứt con lợn kêu eng éc lăn lóc dưới gốc đa, lúc này cả bọn mới ngẩn ra, không biết nên xoay xở thế nào. Chúng xúm lại bàn bạc chỉ trỏ huyên náo. Lúc đó thằng Tuấn bước ra, nó dõng dạc:
- Hoàng đế hãy giao việc này cho tao, bố tao chuyên mổ lợn thuê, tao biết cách làm, bây giờ kiếm cho tao nước sôi, dao, nồi chảo, củi lửa, muối hành, tao mổ lợn rồi nấu.
Đại tướng quân Đinh Điền khuỳnh khoàng bước ra dõng dạc:
- Vậy giao cho mày mấy thằng lính để sai.
Bộ Lĩnh bèn điểm danh đám lính mới, hóa ra có đến bốn thằng Tèo, ba thằng Tý, mấy thằng Cún, vài thằng Chuột chỉ có vài thằng có tên thường là Tuấn, Dũng, Hà, Năng, Hoàng… còn đám kia bản thân bọn chúng cũng chẳng biết tên cúng cơm của mình là gì.
Vậy là ba thằng Tèo và ba thằng Tý làm quân cho Tuấn, chúng túa về làng mượn và xin các thứ cần thiết, còn một đám gần chục thằng thì đi khắp ngả kiếm củi. Những thằng khác thì có nhiệm vụ chăn trâu.
Loay hoay đến chiều muộn bọn chúng cũng xử lý xong con lợn nhỏ. Tất cả những thứ gì không biết gọi tên chúng cho vào cái chum to rồi luộc sôi lên, còn thịt nham nhở lông thì chúng chia thành từng tảng to rồi nướng trên những đống lửa lớn. Loay hoay mãi rồi bữa tiệc khao quân cũng đã tươm tất, nồi luộc bốc mùi thối hoắc, thịt nướng thì máu con nhỏ tong tong nhưng với lũ trẻ quanh năm đói khát, cả đời chưa được cắn một miếng thịt cho ra hồn thì đây là bữa khao quân ngon nhất trên trần đời, không mỹ vị nào có thể thay thế được cái cảm giác cắn miếng thịt to đùng, nóng hổi, ngọt lịm, mềm thơm ngạt ngào.
Khi trời nhá nhem thì bữa tiệc khai quốc cũng đã tàn, bọn trẻ kia lục tục sảng khoái lùa trâu về, chỉ còn lại Hoàng đế và các đại thần nằm phơi những cái bụng to như cái trống dưới gốc cây cổ thụ. Xung quanh xương lợn vất ngổn ngang, đám chó mèo hoang có mò đến gặm sái thì cũng ngoạc mồm ra mà chửi những kẻ gặm xương này. Chẳng những các khúc xương không còn dính tý thịt nào, thậm chí xương cũng bị mòn hết lớp ngoài nữa.
Thượng thư Trịnh Tú mở lời:
- Tao thấy nước mình có vẻ không ổn.
Bộ Lĩnh gật gù tán thành:
- Tao cũng thấy có gì đó chưa ổn.
Tể tướng Nguyễn Bặc bèn hỏi:
- Giờ làm gì nữa?
Bộ Lĩnh nói:
- Thôi cứ về đi đã, mai tính sau.
Cả bọn đều cảm thấy cái đất nước chúng vừa dựng lên có điều gì đó chưa ổn, nhưng chưa ổn ở chỗ nào thì chúng không thể nói rõ ra được, năm thằng bèn ôm vai bá cổ nhau trở về. Vừa bước vào cổng Lĩnh đã nghe thấy tiếng bà thím chu chéo chửi, nó lẳng lặng đi vào trong nhà. Trong nhà, ông chú mặt mũi hầm hầm cầm cái roi mây sốt ruột đi vòng quanh cái sập, vừa nhìn thấy Bộ Lĩnh, ông trỏ roi vào mặt nó rít lên:
- Thằng ôn vật, mày còn dám về cái nhà này à, quỳ xuống.
Bộ Lĩnh mặt câng cáo quỳ xuống giữa nhà. Vút, vút, hai nhát roi quất xuống lưng, như hai thanh sắt nóng bỏng dí vào lưng, cái đau thấu trời xanh cuộn từ lưng xộc ngược lên não khiến hai hàng nước mắt Lĩnh trào ra. Nó không khóc, hai hàm răng nghiến chặt, nuốt tiếng thét vào trong lòng, mặt vênh lên thách thức. Bà thím từ ngoài sân lao vào quỳ sụp bên cạnh Lĩnh nức nở:
- Ông nguôi giận, ông nguôi giận, từ từ rồi dạy bảo nó.
Bà thím chanh chua thương Lĩnh như con đẻ, nay thấy cu cậu bị đòn đau thì sự cáu giận vì bị mất của lại bỗng biến thành niềm thương yêu vô hạn với nó.
Cơn đau buốt đã qua, Lĩnh gằn giọng:
- Tiền bố con gửi cho chú cả đống, chú mua vườn tậu ruộng, mua quan mua chức, một con lợn nhỏ có là gì, con có quyền.
- A, mày, thằng này láo.
Ông chú tức giận cành hông, mặt đỏ như gà chọi, bọt mép sùi lên. Tuy nhiên y là viên quan đi lên bằng ngân lượng của cha Bộ Lĩnh nên tâm cơ cũng vô cùng linh mẫn. Khi vừa nhìn thấy thằng cháu thì y tức giận thật lòng, nhưng sau khi vụt hai roi thì trong lòng y bỗng thấy trào lên niềm ân hận, dù gì gia cảnh được như hôm nay thì cũng là nhờ hai báu vật này đây, một người phụ nữ có như không trong nhà y, bà ấy gần như vô hình trên thế gian này, thi thoảng y nhớ ra có bà chị dâu trong nhà thì giả vờ quá bộ xuống vấn an, nhưng cũng chỉ chào một câu rồi lại quay đi. Chỉ có thằng ranh này, từ lúc biết đi đã nghịch rách trời, biết chạy là đã phá làng phá xóm. Nó tụ tập với mấy thằng con nhà quan quanh làng thành một đội, ăn không ngồi rồi đi bắt nạt hết đám trẻ con con nhà nghèo trong làng. Ông chú cũng đầu tư cho cháu học hành để lấy công với người anh là quan lớn nhưng cu cậu chả chịu học hành gì, suốt ngày đàn đúm phá phách. Nhưng ông anh làm quan lớn kia có vẻ cũng không quan tâm đến sự nghiệp của cậu quý tử đây, hàng tháng vẫn chuyển số ngân lượng khổng lồ về cho hai mẹ con. Nên ông chú nói gì thì nói, chẳng dám khắt khe với thằng cháu ngỗ ngược này.
Tuy nhiên quốc có quốc pháp, gia có gia phong, không thể để nó tùy tiện thế được, ông chú nén lòng, trỏ roi vào mặt Lĩnh:
- Tao đánh tuốt xác mày ra.
Mặt Lĩnh bỗng lạnh băng, đôi mắt chợt trở lên lạnh băng vô cảm, y ngẩng lên nhìn thẳng vào mặt người chú rồi nhả từng chữ rành rọt:
- Quân của con sẽ báo thù.
Người chú bỗng rùng mình, y có cảm giác từ thân thể thằng bé đang quỳ kia đang tỏa ra một luồng tử khí lạnh lẽo chết người. Nó khiến cho tâm khảm ông cứ run lên từng chập, cái cảm giác sợ hãi cứ len lỏi trong tâm khiến y thấy bối rối, ông chú quay lưng lại rồi hít một hơi đè cái cảm giác run rẩy lại rồi quát to:
- Cút đi.
Bộ Lĩnh nén đau, thất thểu xuống gian nhà nhỏ của mẹ, nó không dám cho mẹ biết đã có hai con lươn đỏ bầm to bằng ngón chân cái người lớn vằn sau lưng nó, nó nhẹ nhàng rúc vào lòng mẹ rồi nghiến răng nuốt cái đau thắt quặn rát rạt trên lưng vào lòng, gắng nhẹ thở rồi dần dần chìm vào mộng mị.
Từ hôm sau trở đi, cái vương quốc gốc đa của bọn trẻ luôn rổn rảng những tiếng cười trong veo, hồn nhiên. Tể tướng Nguyễn Bặc phân công thần dân đâu ra đấy, một đội ba bốn thằng thay phiên nhau đến nhà lão Vồng giúp việc trong xưởng rèn, một đội năm thằng nhỏ con, yếu ớt thì được phân công chăn cả đàn trâu, một số khác đi chặt tre dựng nhà, số còn lại đi mò cua bắt ốc, đào khoai, bới sắn. Hoàng đế loanh quanh bên gốc cây đa chỉ đạo các đạo quân. Bọn chúng cứ vô tư xây dựng cái vương quốc gốc đa như vậy, thi thoảng cãi nhau chí chóe, chúng nướng tất cả những con gì bắt được, luộc tất cả những củ đào được và nhai sống mọi loại trái cây. Sớm tính mơ cả bọn đã tụ hội dưới gốc đa, đến tối mịt mới mò về nhà. Đám con nhà nghèo thì cha mẹ lại thấy thích thú an tâm hơn vì ngoài việc đàn trâu được chăm bẵm tốt, đám trẻ con lại có da có thịt hơn trước, hơn nữa chúng cũng không mang đồ ăn ở nhà đi như trước kia, còn đám con nhà quan lại giàu có như đám hoàng đế và các đại thần thì thời gian đầu cũng bị cha mẹ quở trách, đòn roi, nhưng sau thấy chúng chẳng biến chuyển gì thì cũng thây kệ.
Qua một thời gian, bọn chúng cũng đã dựng được mấy cái cột, lợp lá, lợp rơm lên trên đủ để che nắng, che mưa nhỏ, riêng chỗ hoàng đế thì có hẳn một cái ghế bằng tre ghép lại và có mái dày dặn.
Một hôm, khi hoàng đế đang nhá khoai nướng với các đại thần thì thằng Tũn mếu máo chạy về, trán nổi u một cục, miệng tứa máu. Cả bọn xúm lại hỏi han, cu Tũn nức nở:
- Thưa hoàng đế, tao đi mót khoai ở làng bên kia, mấy thằng bên kia xúm vào đánh tao, chúng nó bảo sẽ kéo quân sang đây phá nát cái ngai vàng của mày.
- Mẹ nó.
Cả bọn nhao nhao lên chửi rủa. Hoàng đế tức càng hông đứng dậy khoành tay:
- Chúng mày im lặng, tập hơp hết anh em lại đây, chúng ta kéo sang cho chúng nó một trận.
Cả bọn hùng hổ lao đi tứ phía gọi quân về, lúc bấy giờ Thái sư Lưu Cơ mới nói:
- Bọn mày này, cứ thế kéo quân sang là không ổn, nhỡ chúng nó đông hơn, khỏe hơn thì không những chả đánh được, có khi lại thua to.
Bộ Lĩnh giật mình, quả nhiên như vậy, nóng vội quá rồi, nó bèn ngồi xuống gọi đám đại thần vây lại xung quanh thì thầm bàn bạc. Khắc sau, quân tướng khắp nẻo đổ về, thằng vài con tôm, thằng đôi ba quả ổi, thằng vác cây gậy tre già, chúng quây tròn quanh gốc đa, Bộ Lĩnh đứng lên dõng dạc:
- Anh em chúng ta quyết tâm không để cho thằng nào bắt nạt, từ mai trở đi, chúng ta sẽ luyện tập võ nghệ, binh pháp. Tao phân công thế này, thằng Dũng lé làm chỉ huy quân thám báo, lấy ba thằng Tèo làm quân, hàng ngày phải qua làng bên giám sát toàn bộ tình hình quân giặc, xem chúng có bao nhiêu thằng, bao nhiêu trâu, lớn bé thế nào. Số anh em còn lại sẽ tập trung ở đây luyện võ công. Tao và các đại thần sẽ dạy chúng mày. Bây giờ tất cả giải tán.
Nói rồi, không để cho các thần dân có quyền hỏi han, hoàng đế và các đại thần kéo nhau về làng. Cả bọn kéo đến nhà Đại tướng quân Đinh Điền.
Bố của Đinh Điền vừa hay đang ở nhà tiếp một vị khách triều đình, hai ông đang ngồi trên trường kỷ nhai trầu thì đám trẻ con ùa vào. Bộ Lĩnh vòng tay dõng dạc:
- Bẩm hai bác, chúng con có việc nhờ thỉnh.
Bố của Đinh Điền tên là Đinh Thân, người vốn đã chẳng lạ gì cái đám phá gia chi tử này nên ông vuốt bộ râu thưa cười khà khà, nhưng vị quan khách kia có vẻ ngạc nhiên. Lão Thân quay sang:
- Chuyện gì?
Bộ Lĩnh thưa:
- Chúng con nhờ bá truyền dạy võ học và binh pháp, vì giang sơn của chúng con đang bị ngoại bang nhòm ngó.
Vị quan khách trố mắt, nhìn kỹ lại Bộ Lĩnh, một thằng bé khôi ngô, ăn nói dõng dạc, mắt sáng quắc, chứa thần khí, cả người y toát lên một thứ uy dũng lạnh lùng, chết chóc, vị quan khách khẽ rùng mình, ông cất tiếng cười vang rồi nói:
- Ta là Trần Lãm, hiện đang trấn thủ vùng Bố Hải Khẩu, vừa hay có việc qua chơi với Đinh tiên sinh đây, nghe Đinh tiên sinh ca ngợi các tiểu anh hùng nhiều, nay hữu duyên được gặp, quả nhiên có chỗ hơn người.
Nói rồi ông quay sang Đinh Thân, nghiêm giọng:
- Đinh tiên sinh này, âu cũng là cái duyên, hay ngài cứ chấp nhận cho thằng Trần Lăng nhà tôi tá túc nơi này, vừa hay để dạy các công tử đây võ công, binh pháp. Chả giấu gì tiên sinh, thằng cu nhà này cũng có chút sở học về binh nghiệp.
Đinh Thân thấy vậy hốt hoảng quỳ xuống hành đại lễ:
- Được đại vương chiếu cố như vậy, tôi cầu còn chẳng đặng, chẳng hay công tử hiện đang ở nơi đâu.
Trần Lãm nâng Đinh Thân dậy và nói:
- Nó đang trên đường tới.
Ông quay sang mấy đứa trẻ đang ngơ ngác:
- Các con tuổi trẻ mà chí lớn ngang trời, lão quan này bái phục. Các con ngồi lên đây.
Bọn trẻ trèo lên trường kỷ, ngồi ngay ngắn, đăm chiêu dõi theo từ cử chỉ của vị võ quan oai nghiêm trước mặt, vị võ quan vuốt râu rồi cất lời, không hiểu là ông đang tâm sự với lũ trẻ hay tâm sự với chính bản thân mình:
- Giang sơn xã tắc lúc này vô cùng rối ren, cả ngàn năm nay chúng ta bị phương bắc đô hộ. Đã có vô số anh hùng hào kiệt các thời nổi lên, hòng thu giang sơn về một mối. Nhưng hỡi ôi, tất cả các cuộc kháng chiến ấy đều như những ngọn đèn trước gió bão, chỉ bùng lên được le lói rồi lại bị vùi dập. Vừa hay hào trưởng Dương Đình Nghệ khởi binh, đem 3 ngàn quân từ Ái Châu đánh thẳng vào Đại La, vừa đi đường vừa tuyển quân. Các châu, các quận giờ lúng túng như rắn mất đầu, kẻ muốn theo Dương Đình Nghệ, người muốn phò giúp chế độ nhà Hán, nên các hào trưởng, người dắt binh theo Đình Nghệ, kẻ đóng thành cố thủ. Rồi đây một trường mưa tanh gió máu sẽ ập đến mảnh đất này.
Bọn trẻ con ngơ ngác, chúng nghe mà chẳng hiểu gì. Cha của Đinh Điền run run hỏi:
- Đại nhân, vậy là Dương Đình Nghệ khởi binh rồi à?
- Khởi rồi, thanh thế ghê gớm lắm, hữu tướng của ngài là Đinh Công Trứ, cha của con đấy, nhóc ạ.
Đinh Bộ Lĩnh nghe như ù tai, cha của nó oai phong vậy sao. Chưa kịp hỏi han ngọn ngành thì lão quan Trần Lãm đã khoát tay:
- Thôi các con đi chuẩn bị đi, từ sớm mai tập hợp ở đình làng, ta sẽ phái một võ tướng đến chỉ bảo cho các con.
Bọn trẻ sung sướng chạy ù đi, quên cả chào bái biệt.
Chúng quá nhỏ để có thể hình dung ra vận nước dân tộc ngàn năm nay.
Chỉ có những bậc anh hùng như Trần Lãm, Đinh Thân đây thì mới biết cái cảnh giang sơn bị dày xéo, dân tình lầm than, đất nước sống vật vờ, tạm bợ ngàn năm nay.
