Những buổi học với thầy Lê cũng loanh quanh Tứ Thư Ngũ Kinh, Bắc sử và Nam sử. Bớt được mớ kinh Phật kể cũng đỡ, nhưng đôi khi tôi và mẹ vẫn thường tụng kinh và ăn chay vào một số ngày. Thậm chí An Dân cũng bắt đầu phải tập ngồi thiền và tụng kinh.
“Thầy, trẫm muốn hỏi, vì sao quan phương bắc như Triệu Đà lại được xem là vua của nước ta?” Tôi hỏi Lê Thị độc trong một buổi học sử.
“Ý của bệ hạ là…” Y nhướn mày nhìn tôi.
“Ý trẫm là, Triệu Đà chỉ là quan của Tần Thủy Hoàng, chỉ vì đương lúc loạn thế đánh xuống phía nam, tiêu diệt Âu Lạc mà xem y như vua của dân Việt ta sao?”
Tôi dốt, nhưng bạn cùng bàn tôi chuyên Sử. Nó thường hay cãi nhau trên mạng về vấn đề “Có chấp nhận Triệu Đà là một vị Hoàng đế của Việt Nam hay không?”
Đại khái là vì Triệu Đà lấy quốc hiệu Nam Việt, và Đại Việt sử ký toàn thư cũng có một kỷ riêng về ông ta và triều đại họ Triệu. Hơn nữa trong thời gian trị vì, ông cai trị theo phong tục tập quán người Việt như ngồi xổm, nhuộm răng, đi chân đất… Các hậu duệ của ông cũng mang một nửa dòng máu Việt.
Bác Hồ cũng có thơ:
“Triệu Đà là vị hiền quân,
Quốc danh Nam Việt trị dân năm đời.”(*)
Hồi đó tôi chẳng quan tâm lắm. Nhưng ở đây thì phải quan tâm. Thời này có cả đền thờ của Triệu Đà ở lộ Khoái(**), phía đông nam thành Thăng Long. Một số nơi xem ông là thành hoàng của làng mình.
“Hạ thần học thức nông cạn, chỉ dám xét theo sách sử và truyền tụng trong dân gian. Theo ý của hạ thần, xưa An Dương Vương gầy dựng nước Âu Lạc, đã có thể chống lại được cuộc xâm lăng của Tần Thủy Hoàng. Nhưng rồi lại để thua và mất nước vào tay Triệu Đà. Đà vốn là quan phương bắc, nhưng khi về nước nam, y đã cai trị nước Việt theo phong tục của người Việt, thậm chí khi Cao Tổ nhà Hán muốn Vũ Đế nhà ta thần phục, ông ta cũng chỉ thần phục trên danh nghĩa. Giống như nhà Đinh, nhà Lê và cả nhà Lý chúng ta, bên ngoài xưng vương, nhưng trong nước vẫn là lễ nghi Hoàng đế.”
“Nhưng Triệu Đà vốn là người phương bắc mà.” Tôi cãi cố.
“Tích Quang, Nhâm Diên, Sĩ Nhiếp(***) cũng là quan phương bắc kia mà.” Thầy Lê đáp. “Thậm chí họ còn chẳng xưng đế xưng vương gì cả. Họ truyền bá văn hóa, giáo hóa chúng dân thì sẽ có được lòng dân. Còn như Tô Định, tham lam tàn bạo hà hiếp bá tánh thì sẽ chỉ có được sự phẫn nộ của dân chúng mà thôi. Cuối cùng, hắn cũng bị Trưng Nữ Vương đánh đuổi.”
Ánh mắt anh ta nhìn tôi giống như muốn nhắc tôi rằng “mày mà láo nháo là biến khỏi ngai vàng ngay.”
“Vậy ý của thầy là, xuất thân của y không quan trọng bằng công lao của y?”
“Chính xác!” Lê Văn Thịnh gật đầu mạnh. “Người giỏi trị nước không xét thân thế, không xem cương thổ, chỉ xem ở đức mà thôi. Triệu Võ Đế tự xưng đế trong nước, đối ngang với nhà Hán, mở đầu cơ nghiệp đế vương nước ta, giữ vững bờ cõi, thiết lập nhà nước, ngoại giao phải đạo, giữ ngôi bằng nhân đức, dân ta an cư lạc nghiệp. Vậy thì y là người Hán hay người Việt còn quan trọng ư? Dân ta chịu sự cai trị của triều đình phương bắc ngót nghìn năm, đâu phải kẻ nào cũng đè đầu cưỡi cổ ta. Những người lấy đức phục nhân như Sĩ Nhiếp hay Võ Đế Đà, sống thọ là xứng đáng(****).”
“Trẫm hiểu rồi.” Tôi khoanh tay lại. “Nhưng phụ hoàng trẫm và Tần Thủy Hoàng cùng tuổi. Ý thầy nói phụ hoàng trẫm vô đức và bạo ngược như Tần Hoàng?”
“Thánh Tông sinh ra phải đi lùi về vạch đích, Tần Hoàng mười năm làm con tin Triệu Quốc, chịu biết bao cực khổ khó nhọc. Thánh Tông sinh được một người thừa kế anh minh trí hiếu như bệ hạ đây, còn Doanh Chính kia chỉ sinh được lũ con vô năng. Nay bệ hạ lại đố kỵ tuổi tác ư? Ở quê thần, người như thế sẽ bị xem là nhỏ mọn đấy.”
Trong đầu tôi thầm mừng vì mình đã chọn đúng người.
Học với Lê Văn Thịnh có cái hay. Đó là anh ta thường dẫn tôi đi dạo quanh thành để thị sát dân tình. Chúng tôi chủ yếu đi bộ chứ không dùng xe ngựa. Đây vừa là cách rèn luyện sức khỏe, vừa để gần dân chúng. Khổ nỗi sau vụ trốn đi Nghệ An, mấy tay thái giám không dám để tôi đi lông nhông trên phố nữa. Họ cứ nhất mực đi theo. Nên Lê Văn Thịnh đã bày ra kế cho hai thầy trò trèo tường ra khỏi Văn Miếu.
“Thầy, đây là gì?” Tôi chỉ vào một thứ nữ trang bằng vàng đính kim cương.
“Đây là trang sức từ một đất nước ở xa về phía tây, tên là La Mã.”
“La Mã(*****)!?” Tôi tròn mắt nhìn Lê Văn Thịnh. Dốt Lịch sử thì dốt, nhưng tôi biết La Mã là gì nhé.
“Một đất nước có lịch sử lâu đời. Nằm ở rất xa về phía tây.”
“Khách quan thật có mắt nhìn.” Gã thương nhân ấy là người Việt. Hắn cười tươi rói, để lộ ra một chiếc răng bằng vàng giữa hàm răng nhuộm đen. Ở Đại Việt thì răng đen là mốt, nhuộm răng đen mới chứng tỏ mình nhà giàu, nhưng tôi thì xin kiếu. May làm sao là đa phần quan lại và mẹ tôi đều không chuộng mốt này. Hắn thao thao bất tuyệt về sự xa xôi cách trở, những khó khăn trên đường đi buôn và tay nghề đỉnh nóc kịch trần của thợ thủ công La Mã. Cuối cùng, tôi chọn được một sợi dây chuyền bằng vàng. Giá cao ngất ngưởng nhưng Lê Văn Thịnh đã ghi giấy nợ và cho phép hắn tới ngân khố quốc gia để lấy tiền nợ. Mà giờ người có quyền cao nhất đối với quốc khố chỉ có tôi, mẹ tôi và cha con Thượng thư Lưu Ngữ thôi.
“Quan lại La Mã là một hội đồng được gọi là Viện Nguyên Lão.” Lê Văn Thịnh giảng cho tôi về La Mã trên đường về. “Hoàng đế nước ấy không xem mình là con của trời mà tự ví mình như thần thánh. Có thể anh em con ở nơi ấy chăng?”
“Con chẳng có hứng thú nhận mấy tên ví mình như thần thánh làm anh em đâu.” Tôi thở dài. “Nhưng con tưởng ở La Mã người ta làm theo kiểu chọn người tài lên làm vua?”
“Trước đây thì thế.” Lê Văn Thịnh nói. “Nhưng sau một thời gian dài các Nguyên Lão của La Mã tự gây dựng thế lực phân chia ảnh hưởng khiến cho đất nước rối loạn thì quyền hành tối cao lại quay trở về với Hoàng đế và tiếp tục thể chế cha truyền con nối. Có những sự kiện cướp ngôi từ người ngoài họ, nhưng quốc hiệu thì không thay đổi.”
“Thầy có thể giải thích cho con vì sao lại chuyển từ chế độ thiện nhượng ấy sang chế độ thế tập không?” Tôi hỏi thầy Lê khi hai thầy trò về đến (và trèo tường vào) Văn Miếu.
“Nếu bệ hạ phải lựa chọn giữa Thượng Dương Thái hậu và Linh Nhân Thái hậu, Người sẽ chọn ai?” Lê Văn Thịnh ngồi têm trầu.
“Tất nhiên là mẹ trẫm.”
“Sự thật là bệ hạ đã chọn Linh Nhân Thái hậu. Nhưng nếu khi ấy có một cuộc chiến tranh giành ngôi vị nhiếp chính giữa hai vị Thái hậu thì bệ hạ có ngăn được không?”
“Không.” Tôi khẳng khái trả lời.
“Đấu đá nội bộ trong cung, có thể dễ dàng dẫn tới chiến tranh trong nước. Trong nước mà có chiến tranh, thì ai là người khổ?”
“Bá tánh.”
“Nếu có chiến tranh, bá tánh bị đưa ra chiến trường, ai sẽ cày ruộng sản xuất lương thực?”
“Vậy thì chế độ tập quyền có tác dụng thế nào?”
“Thì khi ấy, ngai vàng sẽ chỉ trao cho người con của Hoàng đế trước, dẫu có tranh chấp thì cũng hiếm khi nào vượt ra ngoài phạm vi cung đình. Tuy cũng có những lần có binh biến, như loạn tam vương thời Thái Tông. Nhưng nhờ sự bao dung độ lượng của Người mà mọi chuyện cũng ổn thỏa. Nhưng để tránh những trường hợp đáng tiếc như thế xảy ra, ngôi vị Thái tử nên được quyết định sớm.” Thầy Lê nhìn tôi. “Lật giở hết sử sách, bệ hạ là Thái tử trẻ nhất đấy.”
“Nhưng trẫm có thắc mắc khác.” Tôi ngồi nghịch sợi dây chuyền vàng. “Mặc dù thứ này quý thật, nhưng giá thành như thế có hơi quá đáng không?”
“Giá thành sản phẩm của La Mã cao gấp trăm lần sản phẩm của nhà Tống. Vì lẽ đó, chỉ có trong Hoàng cung hoặc quý tộc giàu nứt đố đổ vách mới có thôi.”
“Thế còn cửa hàng bên đường đó?”
“Ở đó bán toàn đồ giả thôi.” Lê Văn Thịnh nói như thể anh ta đã biết tỏng từ đầu. Ánh mắt anh ta như trêu tôi.
“Con đã phí tiền vào thứ gì thế này?” Tôi lắc cái vòng trong tay. “Thái hậu sẽ giết con mất.”
“Bệ hạ yên tâm.” Lê Văn Thịnh mỉm cười. “Tờ ngân phiếu khi nãy thần đưa hắn cũng là đồ giả thôi.”
“Hả?”
“Bệ hạ nghĩ chức tước thần đủ to để đụng tới ngân khố quốc gia sao?” Lê Văn Thịnh cười đắc ý rồi bỏ miếng trầu vào miệng nhai.
“Ừ… nhỉ…” Tôi gãi đầu. “Nhưng sao thầy không nói với ta ngay từ đầu?”
“Để dạy bệ hạ thôi.” Lê Văn Thịnh mỉm cười. Dạy học cho vua thích thật. Mắng Hoàng đế cà khịa hoàng tộc mà chẳng lo chịu tội.
“Kinh đô của La Mã là một thành trì giàu sang bậc nhất. Có thể nói, đó là trung tâm thương mại của cả thiên hạ. Thời Hán Trương Khiên thông Tây Vực, mở ra con đường tơ lụa chính là nối liền Trường An với kinh đô La Mã. Để đi từ đó tới đây, sẽ phải băng qua sa mạc, đi qua các Hãn Quốc Tây Vực. Đó là lý do sản vật từ La Mã có giá thành cao ngất ngưởng.”
“Họ có thể đi đường biển mà.” Tôi gợi ý.
“Có chứ.” Thầy Lê gật đầu. “Thời thuộc Hán, có một thuyền buôn của La Mã đã từng cập cảng ở nước ta. Nhưng trên biển cũng đâu có thiếu cướp biển và thiên tai. Thương nhân Tây Dương dạy thần về La Mã nói rằng đi đường biển phải vòng qua một nơi gọi là Lục địa Đen, rồi băng qua những vùng biển đầy nguy hiểm.”
Với một vài kiến thức, tôi đoán ra ngay Lục địa Đen mà anh ta nói chính là Châu Phi.
“Chung quy lại, con đường nào cũng sẽ nguy hiểm như nhau thôi.”
“Còn chứ.” Tôi mim cười.
“Bệ hạ có cao kiến gì sao?”
“Đường hàng không.” Tôi trỏ ngón tay lên trời.
“Hàng… không?” Lê Văn Thịnh ngước lên nhìn trần nhà. “Ý bệ hạ là… bay?”
“Đúng!” Tôi búng tay. “Là bay!”
“Bệ hạ đúng là người trời mà.” Lê Văn Thịnh cười khùng khục. “Thứ lỗi cho thần, thần không biết bay.”
“Ta nói với thầy,” Tôi nói với Lê Văn Thịnh. “Một nghìn năm nữa con người sẽ thống trị cả bầu trời.”
“Thống trị bầu trời ư?”
“Không chỉ bầu trời. Sẽ có ngày, chúng ta sẽ đặt chân lên mặt trăng nữa kìa.”
“Bệ hạ, chú Cuội và chị Hằng đã lên đó từ lâu rồi.” Lê Văn Thịnh rót trà. “Và dẫu ngày mà con người trần thế có thể lên được cung trăng thì thần cũng đã về nơi chín suối rồi.”
Ánh mắt của Lê Văn Thịnh đăm chiêu nhìn ra ngoài vườn. Tôi có thể thấy anh ta đang mơ. Mơ về tương lai khi con người bay lượn trên bầu trời.
(*) Trích bài thơ Lịch sử nước ta của Bác.
(**) Lộ Khoái: tương đương địa phận tỉnh Hưng Yên.
(***) Tích Quang và Nhâm Diên là Thái thú Giao Chỉ (nước ta thời đó) đầu thời Đông Hán (thế kỷ I CN). Sĩ Nhiếp là Thái thú Giao Chỉ cuối thời Đông Hán đầu thời Tam Quốc (cuối thế kỷ II CN đầu thế kỷ III CN).
(****) Theo sử liệu, Sĩ Nhiếp thọ 90 tuổi, Triệu Đà sống tới 121 tuổi.
(*****) Do các vấn đề về dịch thuật và giao thương, khó có khả năng hồi đó nước ta đã sử dụng từ La Mã mà có thể sẽ là Lê Kiền hoặc Đại Thực.
