Ấu Hoàng

Chương 15. Xuất chiến.

 

“Bệ hạ, người thấy thế nào về chuyện hàng hóa từ nhà Tống sang nước ta đang tăng giá?” Lê Văn Thịnh hỏi tôi trong một buổi học nọ.

Dù mang tiếng thầy vua, là Thị độc, nhưng chức vụ chính thức trong triều của anh ta là Thị lang, ngang vai với Lưu Khánh Đàm. Nhưng gã mắt cáo kia chuyen lo những việc tiền nong và kinh doanh, còn thầy tôi thì lo chuyện quân sự và có một chút dính dáng tới tình báo. Hôm nay thầy tôi vừa dạy học vừa phải xem sổ sách cứ như đang tăng ca vậy.

“Sắp có chiến tranh rồi.” Tôi khẳng định.

“Sao bệ hạ lại nghĩ thế?”

“Nhà Tống đang gặp nhiều vấn đề biên phòng phương bắc, nên rất cần giao thương để thu thuế và tăng quốc khố nuôi quân đội. Không lý nào họ lại đi làm một chuyện ngu ngốc như đóng cửa biên giới cả. Nếu có lý do cho việc đó, thì chỉ có thể là họ đang chặn đứng một thứ gây nguy hại đến nước họ. Và đó có thể là gì ngoài thông tin cơ chứ?”

“Quá đúng là bệ hạ!” Lê Văn Thịnh sáng mắt khen ngợi.

“Bài này tôi học rất kỹ để thi học kỳ đấy.” Thực ra cũng nhờ Lê Văn Thịnh đã dạy tôi một chút về binh thư nữa.

“Nhưng nếu có chiến tranh thực sự, thầy nghĩ ai sẽ là người đủ khả năng lãnh đạo quân dân ta kháng chiến?” Tôi hỏi.

“Tất nhiên, chỉ có Thái úy triều ta đủ khả năng mà thôi.” Lê Văn Thịnh nói. “Thái úy là chiến thần đương thời, có thể sánh với Ngô Vương ngày xưa. Tuy nhiên, một mình ông ấy là không đủ.”

“Không đủ ư?” Tôi chau mày. “Thái úy võ nghệ phi thường, trí dũng song toàn, vậy mà còn chưa đủ để đánh bại nhà Tống sao?”

“Nếu là một đội quân nhỏ, Thái úy có thể đánh. Nhưng nếu là một đạo quân quá lớn, mình Thái úy không đủ.”

“Thế phải làm sao?”

“Bệ hạ à, Đại Việt ta không phải chỉ có mình Thái úy thôi đâu.”

-

Ngay trong buổi chầu hôm sau, triều đình đã xôn xao chuyện quân Tống thực sự đang tích trữ lương thực khí giới ở Ung Châu và sẵn sàng công đánh Đại Việt. Hóa ra chúng đã chuẩn bị từ lúc Thánh Tông mới đánh Chiêm, chủ lực cả nước kéo về phía nam. Rồi sau vụ nội loạn của họ Dương thì chúng thấy thời cơ đang dần chín muồi và đã đẩy mạnh công tác chuẩn bị cho cuộc xâm lược.

“Vương An Thạch cho rằng chúng ta vừa mới chiến tranh với Chiêm Thành xong nên không còn đủ quân để chống trả ư?”

“Hắn cũng chưa like truyện nữa.”

“Sao ông ta có thể quá quắt như thế chứ?”

“Các ái khanh,” Tôi gọi lớn. “về vấn đề này, trẫm thấy là hoàn toàn có lý do đấy.”

Văn võ bá quan quay lên nhìn tôi.

“Vương An Thạch vốn là một tay chơi lão làng. Hắn ta nhất định đang định dùng kế lấy chiến tranh để nuôi chiến tranh rồi.”

Tôi nhìn mặt hai hàng quan lại. Họ ngơ người ra như nghe tiếng nước ngoài.

“Nói ngắn gọn,” Tôi hằng giọng. “Vương An Thạch muốn sử dụng tài nguyên thu được từ chúng ta để bù đắp vào ngân khố đang dần kiệt quệ của nhà Tống. Đồng thời giúp quân sĩ phương bắc có thêm chút sĩ khí. Tình huống xấu nhất, nếu ta thua trận, ta sẽ bị bóc lột như thời Đường. Thậm chí có thể quân binh và dân phu nước ta có thể còn phải đi lên miền bắc để đánh trận.”

Cái này tôi chưa học, nhưng ông bà tôi đều là chiến sĩ trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Ông tôi hy sinh, bà tôi vẫn thường kể chuyện về các chiến dịch quân sự. Tôi cũng nhớ được chút chút. Quay trở lại triều đình Đại Việt, các quan lại sau khi nghe tôi trình bày về lấy chiến tranh nuôi chiến tranh thì mặt họ bắt đầu dãn ra. Nhưng rồi họ lại cau có và xì xào.

“Sao bệ hạ nghĩ ra được những thứ như thế được nhỉ?”

“Lê Văn Thịnh đã dạy bệ hạ những gì thế?”

“Một đứa trẻ có thể có được kiến thức cao siêu và uyên thâm như thế sao?”

“Bệ hạ, thần có lời muốn nói.”

Một người bước ra khỏi hàng và cúi người hành lễ với tôi. Anh ta trông khoảng ngoài ba mươi. Dáng người to lớn cùng và có cái uy của một tướng quân. Các bạn tưởng tôi không biết anh ta à? Tất nhiên là tôi có biết. Đó là Chiêu Văn Hầu Lý Thái Nguyên, cháu nội của Uy Minh Vương Lý Hoảng. Uy Minh Vương là em trai vua Lý Thái Tông, vậy nên anh ta là em họ tôi.

“Quân hầu cứ nói.”

“Nếu chúng ta đã sắp sửa có một cuộc đại chiến với nhà Tống, bệ hạ đã liệu được đối sách chưa?”

“Tất nhiên.” Tôi mỉm cười. Những ngày học bài để chuẩn bị cho thi học kỳ của tôi sắp phát huy tác dụng rồi. “Chúng ta sẽ đánh phủ đầu nhà Tống. Quân ta sẽ đánh thẳng vào Ung Châu.”

Quần thần lại xôn xao bàn tán.

“Bệ hạ, chuyện đó…”

“Bệ hạ, dù rằng Người anh minh sáng suốt, nhưng đánh vào đất Tống. Từ thời Lê chúng ta cũng chỉ mới đánh phá quanh biến giới, tiến vào tận Ung Châu, chuyện này… là bất khả thi rồi ạ.”

“Bất khả thi cái gì? Các khanh đã thử bao giờ chưa mà biết?” Tôi lên giọng. “Vua Lê mới lập quốc đã có đánh vào đất Tống, khiến quân thần nhà Tống sợ xanh mặt, triều ta hùng mạnh như thế này mà lại không thể xuất binh một trận dằn mặt nhà Tống sao? Các khanh tự ti cái gì? Tự nhục dân tộc hả?”

Tôi biết là tôi hơi quá lời, nhưng ít nhất thì nói thế khiến đám võ tướng có vẻ hừng hực khí thế hơn.

“Bệ hạ.” Một người khác bước ra và quỳ xuống. “Thần xin được ra trận.”

Người này có gương mặt trẻ măng, mới mười bảy tuổi. Anh có ánh mắt mạnh mẽ giống cha tôi và cắt tóc ngắn. Anh là Hoằng Chân Hầu Lý Hải Dương, con của Phụng Càn Vương Lý Nhật Trung, em ruột của Thánh Tông. Tức là em họ tôi luôn.

“Hầu gia từ từ.” Tôi nói với anh ta và quay lại nhìn các triều thần. “Các vị, các vị nghĩ ai là người thích hợp nhất để đánh vào đất Tống?”

Họ không ai nói được lời nào. Có lẽ vì họ đều biết ai là người thích hợp nhất.

“Bệ hạ,” Thái úy Lý Thường Kiệt bước ra. “thần, xin được ra trận.”

-

“Bệ hạ thực sự giao hết quyền hành cho Thái úy ư?” Lê Văn Thịnh hỏi khi đang cùng tôi tập viết chữ.

“Tất nhiên.” Tôi nói khi đang viết bài Đoản Ca Hành của Tào Tháo. “Thầy cũng bảo Thái úy là chiến thần đương thời còn gì.”

“… được.”

“Ngài không được vào đây đâu ạ.”

“Quân hầu…”

“Chuyện gì ồn ào thế?” Tôi nhìn ra ngoài.

“Bệ hạ.” Hoằng Chân Hầu Lý Hải Dương xuất hiện trước mặt tôi. Mặt anh ta nóng bừng lên. Rồi chợt nhớ ra điều gì, anh vội quỳ xuống. “Thần mạo phạm vào giờ học của bệ hạ, xin bệ hạ thứ tội. Nhưng thần có việc cần tấu.”

“Ngoài Thái úy, nước ta vẫn còn rất nhiều các tướng tài khác, tại sao bệ hạ chỉ trọng dụng duy nhất mình Thái úy?” Anh ta nói sau khi tôi cho phép.

“Trẫm…”

“Bệ hạ, nếu quân quyền rơi quá nhiều vào tay một người, bệ hạ có lường được hậu quả hay không?” Anh ta cắt lời tôi.

“Được rồi.” Tôi quay lại bàn học và rót một cốc trà. “Hầu gia hãy hạ hỏa đi.”

Anh ta nhận cốc trà nhưng chưa uống ngay.

“Bệ hạ, thần không có tâm trạng.”

“Hình như là trẫm chiều đệ quá rồi đệ hư đúng không!?” Tôi quát.

“Quân hầu,” Lê Văn Thịnh đứng bên cạnh khuyên nhủ. “kinh động tới giờ học của bệ hạ là trọng tội đấy.”

“Bệ hạ,” Lý Hải Dương nói tiếp. “thần là hoàng thân quốc thích, từ nhỏ đã được luyện võ và học binh thư, chỉ mong có một ngày được dẫn quân đánh trận, bảo vệ quốc gia như cha ông. Nay bệ hạ trọng dụng đại thần, rời xa huynh đệ như thế này, có khác gì Ngụy Văn Đế với các huynh đệ ngày xưa?”

“Giờ lại lấy Tam Quốc ra dọa trẫm cơ đấy.” Tôi nóng máu. “Hầu gia, đọc khổ cuối bài Đoản Ca Hành xem.”

“Núi không ngại cao,

Nước không ngại sâu,

Chu Công thả cơm,

Thiên hạ về theo.”

Hải Dương đọc lại bài thơ.

“Chu Công ngày xưa làm rơi vãi cơm khi nhai, trong lòng chỉ mong chờ tìm được hiền tài giúp nước . Nay trẫm đã có nhân tài và giang sơn nhất tổ nhị tông để lại, lại không biết trân quý,” Tôi quay vào trong đưa tay về phía Chu Công. “làm sao dám cai trị thiên hạ này? Quân hầu đường đường là người của hoàng thất, lại đi ganh tị chỉ vì chút chuyện nhỏ nhặt này ư? Liệu quân hầu có đang định làm một loạn tam vương nữa hay không?”

“Bệ hạ quá lời.” Hải Dương dập đầu xuống. “Thần ngu muội, nhất thời không hiểu chuyện, xin bệ hạ trách phạt.”

“Được!” Tôi lớn tiếng và ngồi xổm xuống cạnh anh. “Nghe lời trẫm này, sau khi Thái úy thắng trận, nhà Tống sẽ đem quân sang đánh nước ta. Khi ấy, trẫm muốn Hoằng Chân Hầu Lý Hải Dương tận tâm tận lực hỗ trợ Thái úy bảo vệ đất nước.” Tôi nhớ lại lời cha tôi đã nói với Thái úy và Thái sư trước lúc lâm chung. “Cúc cung tận tụy, đến chết không thôi.”

Ánh mắt anh ta nhìn tôi như sáng lên.

“Thần xin tiếp chỉ!”

“Bệ hạ,” Lê Văn Thịnh gọi tôi sau khi Lý Hải Dương đã đi khuất. “sao bệ hạ có thể khẳng định được nhà Tống sẽ lại đem quân tới?”

“Trẫm…” Tôi chỉ lên trời. “xem thiên tướng.”

-

Tối hôm ấy, Lý Thường Kiệt tìm tới điện Thiên Khánh khi tôi đang ăn cơm.

“Bệ hạ thứ tội, thần lỡ làm phiền giờ cơm của bệ hạ, thần sẽ quay lại sau.”

Lý Thường Kiệt quay đi.

“Thái úy, vào đây nào.” Tôi ngoắc tay.

“Thái úy, không cần phải ngại đâu.” Mẹ tôi cũng nói.

“Thái úy!” An Dân gọi lớn.

Cuối cùng Thái úy đành ngồi xuống ở vị trí xa nhất.

“Lại gần đây nào.” Tôi ngoắc tay.

Lý Thường Kiệt từ từ xích lại gần.

Tôi xới cơm cho vào bát rồi mời Thái úy.

“Bệ hạ!” Thái úy trông rõ ràng là khó xử.

“Ừm, thế này hơi khó xử nhỉ.” Tôi nhìn mọi người. “Người đâu!?”

Chờ tên thái giám tới, tôi bảo hắn mang cho tôi cái chiếu.

Vua tôi ngồi khoanh chân trên chiếu. Trên mâm chỉ có mấy món thịt cá rau canh. Về cơ bản thì ẩm thực thời này cũng không khác với thời tôi lắm. Không có ớt, nhưng hành tỏi tiêu muôi thì không thiếu thứ gì. Dù tôi rất thèm phở, mì gói và cả mấy món ăn vặt.

“Ăn nhiều vào An Dân.” Tôi gắp thịt cho em tôi. “Ăn nhiều mới mau lớn.”

Ánh mắt Thái hậu và Thái úy chòng chọc nhìn hai đứa trẻ.

“Thái úy, việc học võ của bệ hạ và Minh Nhân Vương dạo này thế nào?” Thái hậu hỏi.

“Hồi Thái hậu, bệ hạ và điện hạ đều lanh lợi hoạt bát, nhanh chóng tiếp thu được tinh hoa võ thuật của dân tộc và cả thương pháp của Thái Tổ. Sau này nhất định có thể thân chinh dẹp giặc như các vương gia tiền triều.”

“Thái úy cũng ăn đi.” Tôi xắn một miếng cá ra và gắp cho Lý Thường Kiệt.

“Ơ, bệ hạ, thần,” Lý Thường Kiệt cố tránh.

“Khanh lại không nể trẫm.” Tôi tặc lưỡi.

Cuối cùng Lý Thường Kiệt đành nhận.

“Thái úy phu nhân dạo này khỏe không ạ?” An Dân hỏi.

“Phu nhân nhà thần vẫn khỏe. Tạ điện hạ quan tâm.”

“Thái úy là nghĩa đệ của tiên đế, tức là, ngài và phu nhân là nghĩa thúc nghĩa cô của bệ hạ và bản vương.” An Dân nhí nhảnh nói. “Người nhà quan tâm nhau là chuyện nên làm mà.”

“Điện hạ quá lời rồi. Thần tích đức ba đời mới có được vinh hạnh ấy.”

“Mùa đông sắp tới rồi.” Mẹ tôi đặt đũa xuống. “Phu nhân Thái úy cũng dần có tuổi, sức khỏe cũng không còn như xưa. Ta sẽ tặng khanh một ít áo ấm đem về.”

“Thái hậu…” Lý Thường Kiệt ăn cơm với nước mắt.

“Thế khanh đã quyết định xong chưa?” Tôi hỏi Lý Thường Kiệt khi ngồi đánh cờ cũng ông sau bữa cơm.

“Quyết định…”

“Chiến thuật, hướng hành quân, nhân sự, quân số…” Tôi đặt quân cờ vây xuống.

“Bẩm bệ hạ, thần và Lưu Thượng thư đã sắp xếp xong cả rồi ạ.”

Tôi nhìn ông.

“Mà, Thái úy nổi tiếng dụng binh cẩn trọng lại đồng ý với chiến thuật đánh vào nước Tống của trẫm cơ đấy.”

“Ngồi yên đợi giặc sao bằng đánh trước để bẻ gãy mũi nhọn của nó.”

“Là tiên phát chế nhân. Thái úy, tướng ngoài trận mạc, bất cần lệnh vua. Một khi đặt chân lên đất Tống, toàn bộ quyền quyết định sẽ nằm ở ngài. À không, ngay khoảnh khắc ngài đi qua cổng Diệu Đức, mọi sự sẽ do ngài quyết định.”

“Thần nghe nói hôm nay Hoằng Chân Hầu đã có chút bất bình về chiến dịch này.” Lý Thường Kiệt đổi chủ đề.

“Thái úy đi chấp trẻ con ư?” Tôi cười. “Tuy là Hầu tước, nhưng biểu đệ trẫm mới mười bảy tuổi, còn chưa hiểu chuyện. Hy vọng Thái úy không để bụng.”

Tôi không biết Lý Thường Kiệt cảm thấy thế nào khi nghe một đứa trẻ chín tuổi nói một người mười bảy tuổi là trẻ con. Nhưng ở đây ai cũng xem tôi là người trời nên tôi cũng mặc.

“Thần đời nào dám để bụng.” Thái úy mỉm cười. “Ngày còn trẻ, thần cũng ngông nghênh như thế. Tiên đế còn chững chạc hơn thần.”

“Thái úy,” Tôi gọi. “có muốn cùng trẫm, gánh vác giang sơn này không?”

“Là vinh dự của thần!” Lý Thường Kiệt chắp tay nói.

Tôi mỉm cười.

“Đại Việt ta thật có phúc khi có một đấng anh hùng như khanh.”

-

Phụ quốc thái úy Lý Thường Kiệt cưỡi ngựa đi ngay bên cạnh kiệu của tôi, hai bên đường, dân chúng thành Thăng Long tụ tập đông nghịt nhìn đoàn quân giáp trụ sáng bóng, cờ quạt bay trong gió, tiếng bước chân, tiếng trống và tiếng tù và, tất cả cùng tạo thành một bản hùng ca đầy hoành tráng.

“Thái úy đi chuyến này, dẫu có gian nan, cũng phải đại thắng trở về.” Tôi vén rèm kiệu nói với Lý Thường Kiệt. Con ngựa của ông cao lớn và có bộ lông trắng muốt tuyệt đẹp. Chiếc đuôi của nó có một nửa màu trắng và một nửa màu hồng.

“Bệ hạ xin hãy yên tâm.” Lý Thường Kiệt nói. “Thần mang binh đánh trận, nhất định không làm nhục mệnh vua. Nhất định sẽ làm cho nhà Tống kia không thể tiến được một binh một tốt xuống phía nam.”

“Tốt!” Tôi cười. “Lý Thường Kiệt! Hãy thỏa sức mà tung hoành trên chiến trường. Trẫm sẽ chờ tin thắng trận của khanh.”

Thái úy bước qua cổng Diệu Đức và xuống ngựa.

“Bệ hạ vạn tuế!” Lý Thường Kiệt chắp tay vái tôi.

Tôi cũng chắp tay đáp lễ.

Từ hành quân, chiến thuật, nhân sự… tất cả đều do Thái úy Lý Thường Kiệt và Thượng thư Lưu Ngữ quyết. Một khi vượt qua biên giới Việt – Tống, thì mọi việc đều nằm ở quyết định của Lý Thường Kiệt. Thậm chí là tôi cũng không có quyền gọi ông ta trở về.

-

Chiến trường đất Tống cực kỳ gian nan. Mỗi ngày tôi đều thấp thỏm chờ đợi tin tức. Cho đến một ngày, không thể chịu đựng được, tôi đã để lại triều đình cho Thái phó và Thái hậu. Tôi và Lê Văn Thịnh lên Lạng Châu. Bây giờ chính là Lạng Sơn.

Lúc này là đầu tháng mười hai âm lịch. Cái thời tiết lạnh thấu xương ở miền núi phía bắc này khiến tôi không dám nghĩ đến tình cảnh cái lạnh ở Trung Quốc. Quân sĩ của tôi, Lý Thường Kiệt và rất nhiều người đang ở đó, cố gắng hết sức để ngăn chặn một cuộc tấn công của quân thù. Họ đang chiến đấu vì Tổ quốc, vì nhân dân. Và vì tôi. Tôi không thể yếu đuối được.

Nơi đây tuy vẫn thuộc lãnh thổ Đại Việt nhưng mức độ tự trị khá cao, đúng nghĩa là trời cao hoàng đế xa, tôi không thể quản quả núi này như quản Thăng Long được. Do đó ba đời hoàng đế họ Lý đã chủ trương hòa thân để hòa hiếu, gả công chúa cho các tù trưởng để họ giữ yên bờ cõi hộ mình. Nhà của của người dân ở đây là nhà sàn hoặc những ngôi nhà được xây dựa vào núi. Ngôi nhà lớn nhất và đẹp nhất cũng được dựng lên từ gỗ và lợp bằng rơm. Trên đỉnh ngôi nhà đó có một lá cờ màu vàng viền đỏ đề chữ Lý màu đen to. Sân nhà còn đang phơi một lớp da hổ.

“Chị!” Tôi lon ton chạy vào ngôi nhà lớn đó. Trong chiếc áo choàng lông thú dài tới chân, tôi đã suýt ngã mấy lần.

“Công chúa.” Lê Văn Thịnh cúi người vái công chúa Thiên Thành.

Đây là lần thứ ba tôi gặp chị. Lần đầu là khi phụ hoàng mất. Lần hai là khi chị về Thăng Long sau cuộc loạn họ Dương. Chị gái tôi có nước da trắng hồng xinh đẹp không kém gì Thái hậu Ỷ Lan. Dáng người thon thả và đoan trang của con nhà hoàng tộc. Đôi mắt chị hiền hậu, mái tóc đen nhánh để suông dài. Chị mặc một chiếc áo lông gấu màu nâu dài ấm áp, đeo nhiều trang sức vàng và vấn một chiếc khăn đen trên đầu. Đây là bộ trang phục truyền thống của người dân tộc Tày ở miền núi phía Bắc. Chị tôi được gả cho tù trưởng xứ này là Thân Cảnh Phúc. Phò mã hiện đang cùng Lý Thường Kiệt bắc chinh.

“Bệ hạ vạn tuế.” Chị tôi quỳ xuống.

“Chị, bình thân đi.” Tôi đỡ chị tôi. “Chị em một nhà cả mà.”

“Lê Thị lang.” Chị tôi tiếp tục nhún người chào Lê Văn Thịnh. “Bệ hạ không làm khó ngài chứ?”

“Bệ hạ lo lắng cho quân sĩ ngoài biên ải thế này, là phúc phận của quốc gia, sao thần có thể lười nhác được.” Lê Văn Thịnh đáp.

“Tại vì ở đây thông tin sẽ về nhanh hơn.” Tôi nói. “Chị, mấy ngày nay tình hình thế nào?”

“Tình hình chiến sự, khá là khả quan.”

Chị tôi dẫn tôi và Lê Văn Thịnh tới cạnh một tấm bản đồ da vẽ khu vực vùng núi phía bắc Việt Nam và miền nam Trung Quốc.

“Phó tướng quân ta, Tông Đản đã chỉ huy lực lượng của các tù trưởng đánh chiếm các trại ở phía tây.” Chị tôi lần ngón tay theo các dãy núi và các tòa thành trì đã bị đánh dấu X. “Trong khi đó, quân thủy do Thái úy chỉ huy sẽ đánh vào Khâm – Liêm. Có thể chỉ vài ngày thôi là hạ được.”

“Liệu, mọi chuyện có thuận buồm xuôi gió không đây?” Tôi thở dài. Với cái thời tiết này thì ai cũng chỉ muốn trùm chăn và ngủ một giấc thật dài. Tôi từng xem một số phim lịch sử, thấy chuyện quân sĩ phe này không quen khí hậu mà ngã bệnh rồi phe kia đánh ngược lại khá nhiều. Dẫu biết trước là sẽ thắng, nhưng tôi vẫn lo lắng không thôi.

“Bệ hạ không cần phải lo lắng, ảnh hưởng đến long thể.” Chị tôi khuyên. “Thái úy là chiến thần anh dũng nhất Đại Việt. Các tướng Tông Đản, Vi Thủ An, Lưu Kỷ cũng là tướng tài. Dẫu có khó khăn, nhưng chỉ cần quân và dân đồng lòng thì khó khăn nào chúng ta cũng có thể vượt qua được.”

“Quân và dân…” Tôi nhớ mang máng lại tiết học trên lớp ngày xưa. Cô giáo tôi có nói gì đó về nhân dân nước Tống trong cuộc chiến này.

“Thầy!” Tôi quay sang Lê Văn Thịnh. “Chuẩn bị hành trang đi. Chúng ta sẽ sang Tống một chuyến.”

 

back top