Quân pháp Đại Việt nghiêm minh, binh lính tuyệt nhiên không rớ tới một hạt gạo nào của dân. Nhân dân nước Tống vẫn sống yên bình. Khi tôi và Lê Văn Thịnh hỏi thì họ chỉ đáp ngắn gọn “Quân Việt không sát hại thường dân.”
Tên sứ giả năm trước tới Thăng Long mở mồm một tiếng Giao Chỉ, hai tiếng An Nam. Thấy những người dân vùng biên giới này gọi quân Việt là tôi có thể hình dung được phần nào ấn tượng của binh lính Đại Việt trong mắt họ.
“Tài sản của nhân dân. Tính mạng của nhân dân. Và lòng tự tôn của nhân dân.” Lê Văn Thịnh nói khi chiếc xe ngựa đi ngang qua một cánh đồng héo tàn. “Quân chủ vô lý tước đoạt đi ba thứ ấy của dân sẽ không bao giờ được tha thứ.”
“Thầy, ta đang ngăn chặn cuộc tấn công của họ, nhưng trong mắt họ thì ta đang là quân xâm lược, đúng không?”
“Đúng là thế.” Lê Văn Thịnh đáp. “Đại Tống không phải Chiêm Thành. Nếu Thái úy xử lý không đủ khôn khéo, quân ta sẽ đánh mất chính danh, và kết cục sẽ rất thê thảm.”
Tôi gặp một toán lính Đại Việt đang ngồi uống nước bên đường.
“Dừng xe đã.” Tôi gọi người đánh xe và nhảy xuống chỗ họ.
“Các anh em.” Tôi gọi lớn.
Họ ngước lên nhìn tôi.
“Bệ…” Một tên nhìn tôi và á khẩu. Tôi nhanh chóng quắc mắt với hắn. Sao hắn nhận ra tôi nhỉ?
“Tôi chỉ tình cờ tới đây thôi.” Tôi ngồi xổm xuống cạnh họ. “Tình hình quân cơ thế nào?”
“Mọi chuyện khá thuận lợi. Thái úy đã hạ lệnh không tơ hào lấy một cắc nào của dân Tống. Ông ấy còn soạn thảo cả “Phạt Tống lộ bố văn” nữa cơ.”
“Phạt Tống lộ bố văn?” Tôi nhìn họ.
“Cái kia kìa.” Hắn chỉ vào một tờ giấy dán trên tấm bản gỗ lớn bên cạnh.
“Trên đó viết gì thế?” Tôi hỏi. Do nó nằm hơi cao nên tôi ngước không tới chứ không phải là tôi không biết chữ nhé.
“Thiên sinh chưng dân, quân đức tắc mục.
Quân dân chi đạo, vụ tại dưỡng dân.
Kim văn, Tống chủ hôn dung, bất tuần thánh phạm.
Thính An Thạch tham tà chi kế, tác thanh miêu trợ dịch chi khoa. Sử bách tính cao chi đồ địa, nhi tư kỳ phì kỷ chi mưu.
Cái vạn dân tư phú ư thiên, hốt lạc na yếu li chi độc.
Tại thượng cố nghi khả mẫn, tòng tiền thiết mạc tu ngôn.
Bản chức phụng quốc vương mệnh, chỉ đạo Bắc hành.
Dục thanh yêu nghiệt chi ba đào, hữu phân thổ vô phân dân chi ý; yếu tảo tinh uế chi ô trọc, ca Nghiêu thiên hưởng Thuấn nguyệt chi giai kỳ.
Ngã kim xuất binh, cố tương chủng tế.
Hịch văn đáo nhật, dụng quảng văn tri.
Thiết tự tư lường, mạc hoài chấn bố.”
“Trời sinh chúng dân, đức quân ắt gần.
Đạo là quân chủ, cốt ở nuôi dân.
Nay nghe vua Tống ngu hèn, bất tuân lời thánh nhân.
Nghe kế An Thạch, làm phép thanh miêu trợ dịch. Dân chúng lầm than, quan lại béo tốt.
Mệnh dân vốn ở trời, nay bỗng sa cảnh éo le.
Kẻ ở trên cao tất phải xót.
Việc làm từ trước bất cần thưa.
Nay ta phụ mệnh quốc vương ra bắc.
Cốt muốn dẹp yên làn sóng yêu nghiệt, quốc thổ dẫu khác ý dân không phân biệt; quét cho sạch dơ bẩn hôi tanh, cho dân hưởng tháng ngày Thuấn Nghiêu.
Nay ta ra quân, vốn để giúp dân.
Truyền lời hịch văn, người nghe an lòng.
Tự mà suy nghĩ, chớ có sợ gì.
Sau khi dịch lại ra tiếng Việt, tôi quay lại nhìn mấy tên lính.
“Cái này là Thái úy viết sao?”
“Nghe các tướng quân bảo, trước khi đi, Thái phó đã dặn dò Thái úy không được làm mất lòng dân Tống. Nên mỗi khi qua một làng mạc nào chúng tôi cũng đều dán hịch lên và nhờ người biết nói tiếng Hoa trong quân truyền đạt. Nhờ thế mà dân Tống không cản trở quá nhiều. Đôi lúc còn giúp chúng tôi chăm sóc người ngựa bị ốm. Thái úy cũng cho phép thương nhân hai bên trao đổi buôn bán trở lại.”
“Không hổ danh là Lý Thường Kiệt.”
“To gan!” Một tên quát tôi. “Dám gọi tên Thái úy như thế.”
“Ồ, xin lỗi xin lỗi.” Tôi cười trừ. Cái tên biết thân phận thật của tôi bặm môi cố không đánh vào đầu đồng đội mình.
“Thầy, cho họ ít lương thực đi.” Tôi nói với Lê Văn Thịnh.
“Cố gắng thắng trận.” Tôi đưa những túi gạo cho họ. “Gia đình các anh đang chờ ở nhà. Chúng ta đều không muốn bỏ mạng ở nơi xa quê phải không?”
Tôi lên xe ngựa và tiếp tục tiến về phía nơi Thái úy đóng quân. Mấy tay lính nói chuyện với nhau và sau một khoảnh khắc tôi thấy chúng mặt tái nhợt không còn giọt máu rồi đồng loạt quỳ xuống hướng về phía xe ngựa hành lễ.
“Thầy, Thái phó có gặp Thái úy à?” Tôi hỏi.
“Thần nghe mấy bà tám ở Thượng thư đài kể trước ngày hành quân, Thái phó đã tới gặp Thái úy và họ trò chuyện cùng nhau tới tận đêm.”
“Ra thế.” Tôi gật gù.
Đột nhiên xe của chúng tôi bị chặn lại. Phu xe và tùy tùng thông báo rằng có ăn mày đang chặn xe xin ăn. Tôi ló đầu ra xem thì thấy đó nào phải ăn mày. Quần áo có hơi bẩn, nhưng không rách rưới. Hầu hết đều gầy nhẳng, vài người mang theo hành lý vội vã lấy ra vài thứ trông có vẻ quý giá, dù không hiểu họ nói gì nhưng tôi đoán tám phần là muốn dùng để đổi lấy thức ăn.
Tôi bảo tùy tùng chia cho họ chút lương thực rồi nhờ họ truyền đạt rằng trốn tới An Nam sẽ được an toàn.
Nét rạng rỡ hiện lên mặt họ ngay sau khi nghe được những lời ấy. Họ ríu rít cảm tạ, hô hào vạn tuế rồi lũ lượt kéo nhau rời đi. Đi về phương nam.
“Nếu họ vượt qua được các dãy núi kia… sau đó là khí hậu, bệnh tật, văn hóa, ngôn ngữ…” Tôi lầm bầm khi xe ngựa đã đi tiếp một đoạn. “Họ sẽ ra sao?”
“Nước ta luôn mở rộng cửa đón bằng hữu tứ phương, nhưng đâu thể nuôi mấy kẻ ăn không ngồi rồi được. Họ cần phải tạo ra giá trị cho đất nước chứ.”
“Thế thì để họ khai hoang các vùng đất ở xa đi.” Tôi đề nghị. “Sớm hay muộn gì, người Hoa cũng sẽ tràn xuống phương nam vì giặc phương bắc thôi mà.”
“Bệ hạ nghĩ sao?” Thầy Lê nhướn mày.
“Nếu đợi đến lúc phương bắc quá loạn, người Hoa sẽ tràn xuống phương nam ồ ạt, lúc đó, chúng ta sẽ không ứng phó kịp. Nhưng nếu để từng nhóm từng nhóm nhỏ di cư xuống, chúng ta có thể ứng phó dần. Giống như ngăn lũ vậy. Nếu ta chia nhỏ dòng chảy của các con sông lớn ra thành các con suối nhỏ thì tránh được lượng nước quá lớn dẫn đến vỡ đê.”
“Chà,” Lê Văn Thịnh vuốt chòm râu không tồn tại của mình. “Bệ hạ sở hữu những kiến thức hơi vượt quá độ tuổi đấy.”
“Tôi hơi bị giỏi vật lý đấy.”
“Nhưng kể ra, cũng tội nghiệp cho đám nạn dân đó thật. Không biết họ sẽ mất bao lâu để quen với môi trường mới đây.” Lê Văn Thịnh thở dài.
-
Lý Thường Kiệt đóng doanh trên một sườn đồi tương đối thấp dù xung quanh có khá nhiều ngọn đồi khác cao hơn. Cách khoảng năm mươi dặm về phía trước, tôi có thể thoáng thấy nóc đài quan sát của một tòa thành trì.
Doanh trại được dựng khá đơn sơ, không hùng tráng như trong phim, chủ yếu là những ngôi lều dựng tạm, lính tráng đang chuẩn bị cơm tối. Cạnh bên những người lính, tôi còn thấy cả những tráng sĩ miền sơn cước của các tù trưởng người Tày người Mông. Vào trong doanh trại cũng không khó, Lê Văn Thịnh chỉ cần chìa lệnh bài của Thượng thư đài ra là dẫn thẳng tới lều tham mưu của Thái úy.
“Lê Thị độc không ở kinh thành hầu bệ hạ học, chạy ra tận chiến trường làm gì?” Thái úy đang nghiên cứu địa hình Ung Châu bằng cái sa bàn lớn, ông gọi Lê Văn Thịnh mà chẳng ngước lên khỏi cái bàn.
“Bẩm Thái úy, hạ quan vẫn đang hầu bệ hạ ạ.” Thầy tôi mỉm cười đáp.
Tôi nhìn cái sa bàn. Nó cao ngang với tầm mắt tôi.
“Ta nghĩ nên chuyển bản doanh lên núi cao hơn.” Tôi chỉ vào một ngọn núi cao hơn. “Đồi này không cao, quân địch dễ tiến đánh.”
Lý Thái úy mặt trắng bệch ngã phịch xuống sau lời nói của tôi.
“B… b… bệ hạ…” Lý Thường Kiệt lắp ba lắp bắp quỳ một chân xuống.
“Bệ hạ!” Các tướng từ từ quỳ xuống.
“Chúng chúng chúng thần thân mang giáp sắt… không thể hành lễ đầy đủ… mong bệ hạ thứ tội…” Lý Thường Kiệt vẫn chưa hoàn hồn.
“Các khanh bình thân đi.” Tôi nói với họ và nhảy tót lên chỗ ngồi cao nhất của Lý Thường Kiệt. “Thế, tình hình thế nào?”
“Bẩm bệ hạ, quân Tống có vẻ có vấn đề trong đường truyền tin nên đến giờ này đã hơn một tháng kể từ khi ta chiếm được Khâm Châu và Liêm Châu mà vẫn chưa thấy quân tiếp viện của chúng.” Một người nói. Anh ta mặc giáp sắt, nhưng tóc tai, vũ khí và một số phụ kiện trên người trông không giống người Việt.
“Dẫu có biết, quân cứu viện của chúng cũng không đông được đâu.” Một người khác nói. “Vấn đề ở tướng giữ thành Ung Châu kìa.”
“Là kẻ nào?” Tôi hỏi.
“Bẩm bệ hạ, là Tô Giám.”
“Tô Giám à?” Tôi nhớ tên này. Cô giáo Lịch sử của tôi có kể về hắn. Tôi chỉ nhớ mang máng là hắn giỏi. “Không cần biết kẻ thù có là ai. Chỉ cần Đại Việt ta quân tướng đồng lòng, cùng kề vai sát cánh bên nhau thì tất sẽ chiến thắng.
Tôi chắp tay lại nhìn họ. Tất cả người trong lều đồng loạt quỳ xuống.
“Các vị tướng quân, non sông Đại Việt ta, nhờ cả vào các vị.”
Các tướng đồng loạt hô to vạn tuế.
-
Dẫu đang ở nơi tiền tuyến, nơi đất khách quê người, nhưng có những thứ chúng tôi không thể bỏ qua. Chính là tết Nguyên Đán.
Phò mã Thân Cảnh Phúc, anh rể tôi, có dáng vẻ hơi thô kệch nhưng trông rất nam tính mạnh mẽ với nước da rám nắng, râu quai nón tỉa tót chu đáo nhưng tóc thì cạo trọc lốc. Đôi mắt anh tròn và sáng quắc, môi hơi dày nhưng nhìn chung là kiểu nam tính mạnh mẽ chứ không phải kiểu thư sinh như thầy tôi hay gian manh xảo quyệt của Lưu Khánh Đàm.
Hôm nay anh em tôi cùng ngồi trông nồi bánh chưng trong khi anh ta thao thao bất tuyệt về chị gái tôi bằng vốn tiếng Việt như người bản xứ nhưng giọng thì ngọng như trẻ lên năm. Tất nhiên tôi biết chị tôi là người như thế nào rồi nên nghe anh ta khen đi khen lại thì tôi cũng hơi nhức tai. Đến nỗi tôi bắt đầu hiểu cảm giác của bạn tôi khi phải nghe tôi lải nhải về crush mỗi ngày.
Đến khi mở nồi ra, cái bánh chưng của anh ta trông như gói xôi xéo ở cổng trường vậy. Có vẻ là do thắt dây không kỹ.
“Không sao đâu anh rể. Vẫn ăn được mà.” Tôi an ủi anh ta trong khi tay thì đang cắt chiếc bánh chưng vuông vức đẹp mắt.
“Công chúa gói bánh đẹp lắm.” Thân Cảnh Phúc nói. “Tết nào công chúa cũng gói bánh chưng. Phúc chỉ ngồi canh lửa thôi.”
“Vậy thì anh có thể tranh thủ bây giờ đang ở xa, học hỏi mấy anh em người Việt về món ăn Việt. Để khi về nhà làm chị em bất ngờ chơi. Con gái thích những món quà nhỏ nhặt mà bất ngờ lắm đấy.”
“Thật a?” Đôi mắt Thân Cảnh Phúc sáng quắc lên.
“Em đã điêu anh bao giờ chưa?” Ừ thì tôi không thể tỏ tình với người con gái tôi thầm thương, nhưng giờ tôi đang ngồi đây giúp một người đàn ông tìm cách lấy lòng vợ.
Phía sau chúng tôi, những người lính đang ca múa trong những điệu nhạc kỳ lạ. Ý tôi khi nói kỳ lạ là kỳ lạ ở thời đại này. Vì tôi vừa dạy vài gã nhạc công chơi bài Con Bướm Xuân bằng trống bồng. Dưới nền nhạc Hồ Quang Hiếu, những người lính uy vũ ban ngày giờ đang trang điểm lòe loẹt mặc đồ nữ và nhảy nhót trong tiếng cười của đồng đội. Một điệu múa có cái tên hơi tục: Con đĩ đánh bồng.
Không giống bây giờ, từ “đĩ” có ý nghĩa tiêu cực và chỉ gái mại dâm, thời xưa, từ “đĩ” ám chỉ những người đàn ông giả gái. Tương truyền năm xưa, Bố Cái Đại vương Phùng Hưng tập kết nghĩa sĩ ở làng Triều Khúc để chuẩn bị đánh giặc. Để nâng cao tinh thần quân sĩ và cũng để giải trí, ông đã cho tráng sĩ ăn mặc diêm dúa nhảy múa. Vì thấy quân sĩ múa hay quá, thế là vương gọi họ “những con đĩ của ta”.
Bánh chưng, ca múa, lát nữa sẽ có cả pháo hoa. Những năm ở thời đại này, Tết của tôi quanh quẩn một mớ những buổi tế lễ, khoác cổn miện nặng nề đi khắp chốn. Năm nay dù phải đón tết xa nhà, nhưng lại có chút thoải mái hơn. Dù khi về nhà có thể tôi sẽ bị mẹ cho no đòn.
“Nhưng Phúc không ngờ là bệ hạ lại sẵn sàng ở đây ăn tết với chúng binh sĩ đấy.” Anh rể tôi lên tiếng. “Phúc cứ nghĩ bệ hạ sẽ ở trong cung, chờ bá quan tới hành lễ cơ.”
“Hồi xưa, có một đứa trẻ chẳng có chút mặn mà gì với lễ tết. Tất cả những gì nó nhớ về ngày tết là được nghỉ học, được lì xì.” Tôi nói. “Những ngày tết với nó, là những buổi tối tụ tập bạn bè chen chúc nơi phố thị. Nó bỏ bê cả cành quất cây mai, cả chiếc bánh chưng bánh dày. Đến khi bị xe cán chết, nó mới ân hận vì chưa từng có một ngày tết trọn vẹn bên gia đình.”
Tôi cố không để ý tới giọt nước mắt đang lăn dài trên má. Gần mười năm qua, tôi vẫn đón tết cùng gia đình, nhưng tôi luôn ý thức rằng, đây là gia đình của Lý Càn Đức, của Lý Nhân Tông thực sự, nào có phải gia đình tôi. Thánh Tông Hoàng đế, Ỷ Lan phu nhân, Thiên Thành Công chúa, Minh Nhân Vương, ngay cả vị phò mã đang ngồi cạnh tôi, họ quan tâm săn sóc tôi như Lý Càn Đức của họ, nhưng họ nào biết kẻ trước mặt họ là một người xa lạ.
Mười năm nay, tôi vẫn luôn ăn tết xa nhà.
“Những binh sĩ này, họ bỏ cái tết đoàn viên, đến nơi giá lạnh này, bán mạng vì em. Họ chịu đựng được, cớ gì em lại không?”
“Phúc lại không nghĩ Phúc và mọi người ở đây bán mạng cho bệ hạ.” Thân Cảnh Phúc cười.
“Hả?”
“Mọi người ở đây, vì biết nếu không ở đây, quân xâm lăng sẽ giày xéo quê hương mình. Phúc và mọi người, chiến đấu để bảo vệ quê hương. Bảo vệ làng mạc của mình, bản của mình, động của chúng mình, đê của chúng mình, rừng của chúng mình, thành của chúng mình. Hôm nay cầm giáo ra chiến trường, là để ngày mai có thể tiếp tục mang cuốc ra đồng, hôm nay chấp nhận đổ máu, để ngày sau cháu con có thể hát ca trên nương rẫy. Đó là lý do Phúc và mọi người chiến đấu.”
Đến tận hôm nay, tôi mới hiểu được lời mẹ tôi dạy tôi năm ba tuổi. Tại sao lại có chiến tranh, vì có những cuộc chiến bắt buộc phải chiến. Vì có những điều dẫu không muốn nhưng bắt buộc phải làm. Những cuộc chiến sẽ khiến rất nhiều người đổ máu, nhưng phải có đổ máu hôm nay, ngày mai mới có thể đứng tiếp trên mảnh đất của mình.
Tiếng pháo hoa năm mới nổ tưng bừng trong tiếng reo hò của binh sĩ, đồng thời cũng thổi bay những do dự và nghi hoặc trong lòng tôi.
