“Sao lại đóng quân ở đây?” Tôi hỏi khi ngồi nghịch thanh kiếm trong lều. “Sao không đóng doanh trên núi để tiện quan sát?”
“Bệ hạ,” Thầy Lê ngồi bên bàn với bút nghiên sẵn sàng. “ở đây gần sông dễ nấu nướng. Nếu đóng doanh ở những ngọn núi đó, địch có thể ngăn nguồn nước và quân ta rất nhanh sẽ kiệt quê. Hơn nữa, cây cối nhiều dễ bị hỏa công.”
“Ồ.” Tôi gật gù. “Lê Thị lang đúng là tinh thông mọi thứ trên đời nhỉ.”
“Với trọng trách cao cả là hầu bệ hạ học, sao thần dám lơ là bất kỳ một lĩnh vực nào cơ chứ. Được dạy dỗ thần tiên giáng trần như thế này, cả đời thần còn không dám mơ tới.”
“Lê Thị lang!” Từ ngoài lều có tiếng gọi lớn.
“Có chuyện gì?” Lê Văn Thịnh mở cửa lều.
“Có thư của Thái úy gửi về.” Người lính đưa tờ giấy cho thầy tôi.
Lê Văn Thịnh đón lấy lá thư và đọc. Nét mặt anh dần tối sầm lại. Nhưng rồi lại ngay lập tức tươi lên.
“Làm thế nào mà Thái hậu Ỷ Lan có thể nhìn nét mặt và đoán tâm tư của người khác nhỉ?” Tôi vẫn thắc mắc chuyện đó, hoặc có lẽ là do người đàn ông trước mặt tôi là một kỳ tài quá đỗi tài năng mà thôi.
“Thầy, có chuyện gì thế?” Tôi lo lắng hỏi.
“Công tử, có muốn cùng ta đi Côn Lôn Quan một chuyến không?” Lê Văn Thịnh đưa lá thư cho tôi.
“Có chuyện gì thế?” Tôi giật lấy lá thư.
“Lê Thị lang, hiện tại toàn quân của ta đang phải dàn trải để canh giữ bốn mặt thành Ung Châu. Tô Giám là tướng tài, thành này ắt khó phá. Theo mật thám của ta, viện quân nhà Tống do Trương Thủ Tiết dẫn đầu sẽ sớm tiếp cận Côn Lôn Quan và tấn công vào hậu quân của ta. Ta không rõ quân số của chúng, nhưng dù không đông thì với thế chủ động chúng cũng sẽ dễ dàng khiến quân ta rối loạn. Ta biết ngài là người đa mưu túc trí thông làu binh thư, các tướng của ta đều đã chia ra canh giữ các mặt thành Ung rồi, người duy nhất còn lại có thể điều động binh lính chỉ còn mình ngài. Nhận lệnh của ta, chặn đứng quân tiếp viện từ nhà Tống.”
“Trương Thủ Tiết ư?” Tôi cau mày.
“Công tử biết hắn sao?” Lê Văn Thịnh hỏi.
“Không, ta chỉ không biết cha mẹ hắn kỳ vọng điều gì khi đặt cho hắn cái tên này thôi.” Tôi nhún vai. “Thế Côn Lôn Quan ở đâu? Không thể nào là núi Côn Luân được, chỗ đó quá xa.”
Trong phim kiếm hiệp toàn nghe tới núi Côn Luân. Một lần xem bản đồ các nước trong khu vực từ nhà Tống, Liêu, Tây Hạ, Đại Việt, Cao Ly, Chiêm Thành, Đại Lý, Chân Lạp và cả Nhật Bản, tôi xác định được núi Côn Luân phải nằm đâu đó Tây Bắc Trung Quốc hiện nay. Ung Châu nằm ở gần biên giới Việt – Tống nên không thể nào hai thứ ấy là một được.
“Côn Lôn Quan nằm cách Ung Châu hơn hai mươi dặm về phía bắc.” Lê Văn Thịnh nghiên cứu cái bản đồ. “Địa hình hiểm trở thế này…” Thầy tôi quay lại nhìn tên lính. “Chúng ta còn bao nhiêu binh mã?”
“Loại bớt thương binh bệnh binh, và quân giữ doanh, hiện tại chỉ còn khoảng tám trăm binh lính có thể chiến đấu.”
“Tám trăm…”
“Khoan đã nào, không phải chúng ta xuất chinh hơn mười vạn binh sao?” Tôi lên tiếng. “Thành Ung Châu có kiên cố hay Tô Giám có giỏi cỡ nào thì cũng đâu thể chống chọi được mười vạn quân cơ chứ.”
“Thường thì khi công thành, phe tấn công cần quân số gấp ba lần phe phòng thủ.” Lê Văn Thịnh giải thích. “Cộng thêm tài năng của tướng giữ thành thì mười vạn quân cũng khó mà phá được thành này. Xưa kia muốn phá được thành Cổ Loa, Triệu Võ Đế đã phải dùng đến kế bẩn mới có thể hạ được An Dương Vương đấy thôi.”
Tôi nghĩ nếu Lê Văn Thịnh đeo kính thì anh ta sẽ đưa tay đẩy kính cho xem.
“Chúng ta còn bao nhiêu chiến mã?” Tôi hỏi.
“Không tính ngựa bị bệnh do không hợp thời tiết thì hiện tại chúng ta còn gần ba trăm ngựa chiến tốt.” Tên lính kia đáp. Hắn không dám ý ới gì khi bị một đứa trẻ con lên giọng.
“Quân đến cứu viện chắc chắn không ít hơn năm nghìn.” Lê Văn Thịnh bước ra khỏi lều. “Tập hợp cho ta một trăm con ngựa nhanh nhất và một trăm binh lính nhanh chóng đến Côn Lôn Quan. Bảy trăm người còn lại, tập hợp những người khỏe mạnh và hai trăm bộ giáp tốt nhất. Chúng ta sẽ đón đầu quân Tống.”
Được rồi, dốt toán đến mấy cũng có thể tính được tỉ lệ chọi giữa tám trăm và năm nghìn nhỉ. Trung bình sáu tên lính Tống sẽ phải đối phó với một người lính Việt. Thế nhưng tôi vẫn đứng cạnh Lê Văn Thịnh trong một cánh rừng và quan sát cái cổng thành bằng đá sừng sững chặn giữa con đường độc đạo. Trên thành có tấm bảng viết ba Hán tự 關崙崑: Côn Lôn Quan.
Một đoàn kỵ binh vượt qua cánh cổng. Dẫn đầu bởi một đoàn cờ quạt với chữ Tống và chữ Trương. Tôi đoán kẻ đi đầu chính là Trương Thủ Tiết.
Lê Văn Thịnh đưa tay ra hiệu cho người lính bên cạnh. Hắn nghe thấy liền thổi một hồi tù và.
Tiếng tù và vang lên, Trương Thủ Tiết dừng ngựa. Hai bên sườn đồi, cờ Đại Việt giương cao bay phất phới trong gió. Từ hai bên đồi, một đoàn hai trăm bộ binh giáp trụ đầy mình bước ra chắn giữa con đường. Những tấm khiên lớn dựng lên, những mũi giáo tua tủa chĩa về phía trước.
“Tướng giặc là ai? Mau xưng tên họ!” Hắn hét lớn. Tất nhiên là hắn hỏi bằng tiếng Hoa, nhưng gã phiên dịch đi bên cạnh có giọng cũng oang oang không kém gì hắn.
Lê Văn Thịnh không trả lời. Anh chỉ nhẹ nhàng đưa một lá cờ nhỏ lên. Quân sĩ nhận lệnh lập tức giương cung. Anh chàng Thị lang giật mạnh lá cờ xuống, những mũi tên bắn ra tiêu diệt một số lượng lớn quân Tống.
Bộ binh quân Tống đưa những tấm khiên lên chặn cơn mưa tên.
Lê Văn Thịnh đổi lệnh, quân sĩ lăn những tảng đá xuống đẩy ngã tiếp những hàng bộ binh. Những mũi tên, giáo và tre vuốt nhọn cứ thể xả xuống quân Tống. Trương Thủ Tiết bị mưa tên trút xuống ngã khỏi ngựa, đè lên tên thông ngôn.
“Thắng rồi!” Tôi hét lớn.
“Chưa đâu.” Lê Văn Thịnh mặt không biến sắc, tiếp tục ra lệnh. “Chuẩn bị ngựa chiến, chúng ta sẽ chiếm Côn Lôn Quan.”
“Giặc man chớ chạy!”
Một đoàn ngựa chiến lao về phía chúng tôi dẫm đạp lên những người lính. Lưỡi đao của ông vung xuống. Lê Văn Thịnh rút kiếm chặn đòn nhưng vẫn bị hất văng.
“Thầy!” Tôi lao tới đỡ lấy anh ta.
Anh chàng Trạng nguyên đưa tay ra chặn tôi lại.
“Mi là kẻ nào!?”
“Ông nội mi, Trương Thủ Tiết đây!” Gã kia đưa đại đao về phía Lê Văn Thịnh. Ông ta có một vết sẹo lớn từ trán qua đến mắt trái. Bộ giáp màu đồng của ông ta như sáng lên dưới ánh nắng ban trưa. Con ngựa của ông ta có bộ lông màu nâu như cà phê sữa và nó to hơn những con ngựa Việt rất nhiều.
“Trương Thủ Tiết…” Tôi tròn mắt rồi lại quay xuống nhìn cái xác đang phơi giữa đường. “Nhưng…”
“Đó chắc là thế thân của hắn.” Lê Văn Thịnh nói. “Tên này không tệ đâu.”
“Oắt con nhà ngươi cũng biết uy danh lão phu à?” Hắn phổng mũi lên. “Còn không mau quy hàng.”
“Nhưng, ông ta làm cách nào để xác định vị trí của thầy!?” Tôi hỏi nhằm mục đích câu giờ. Kỵ binh của địch có khoảng một trăm, nhưng với lợi thế bất ngờ và kỵ binh, chúng đang tàn sát quân Việt.
“Hừ, ngay khoảnh khắc những mũi tên bắn ra, ta đã thấy chỗ này bắn sớm hơn những nơi khác một chút.” Trương Thủ Tiết bắt đầu khoe mẽ. “Tức là binh lính ở đây phải nhận lệnh trước những vị trí khác. Điều đó chứng tỏ, tướng giặc phải ở đây.”
“Ông ta quả là một tướng tài.” Lê Văn Thịnh quay lại nhìn tôi. “Ta xin lỗi…”
Anh ta đưa thanh kiếm ngang qua, chắn giữa tôi và Trương Thủ Tiết.
“Ta nói ông không tệ, là ông nói tiếng Việt không tệ đâu.” Anh chàng Trạng nguyên cười ha hả và hét lớn. “Ta là Thị lang Đại Việt Lê Văn Thịnh! Hôm nay dẫu có hy sinh tại đây ta cũng không để ngươi tiến thêm một bước chân nào!”
“Ngông cuồng!” Trương Thủ Tiết vung đao tấn công. Lê Văn Thịnh dùng kiếm uyển chuyển gạt lưỡi đao sang một bên.
“Dẫu thân này phơi lại nơi đây, ta cũng không để một tên lính Tống nào chạm vào thiên tử nước nam!”
Lưỡi đao của Trương Thủ Tiết đánh mạnh vào người Lê Văn Thịnh hất văng anh ra xa. Gã tướng Tống quay sang lườm tôi, người đang run rẩy đứng chết trân một chỗ. Bản năng sinh tồn của tôi gào thét tôi phải chạy ngay, nhưng đôi chân tôi thì không nghe lời.
“Đem trẻ con ra trận. Đám Giao Chỉ các ngươi điên rồi.”
“Ngươi sai rồi!” Lê Văn Thịnh đứng dậy. “Chúng ta điên hết rồi. Nhưng chúng ta không phải là người Giao Chỉ! Chúng ta là người Việt Nam!”
“Còn nói!?” Lưỡi đao đâm vào Lê Văn Thịnh. Anh nhảy sang bên né.
“Ta còn nói được. Còn ông thì sắp chết rồi.”
“Cái gì?” Trương Thủ Tiết nhướn mày.
Một con ngựa phóng tới hí vang. Lê Văn Thịnh túm dây cương leo lên lưng ngựa.
“Lão già, có dám cùng ta đấu ba trăm hiệp không?” Lê Văn Thịnh khiêu khích Trương Thủ Tiết rồi phóng ngựa lên cao.
“Ngông cuồng!” Trương Thủ Tiết thúc ngựa đuổi theo.
Như có phép màu, ngay khi ông ta gần đuổi kịp thầy tôi thì con ngựa của Lê Văn Thịnh xoay lại, lưỡi kiếm trong tay Lê Văn Thịnh chém bay đầu Trương Thủ Tiết.
“Hả?” Tôi trố mắt.
“Đâu cần phải ngạc nhiên đến thế.” Lê Văn Thịnh nhặt cái thủ cấp lên.
“Nhưng…” Tôi nhìn quanh. Kỵ binh Đại Việt chỉ có mười mấy người nhưng đều dễ dàng đánh bại mấy chục kỵ binh nước Tống. “Làm sao mà…”
“Trương Thủ Tiết tìm được nơi này nhờ quan sát tốc độ phản ứng của quân sĩ.” Lê Văn Thịnh ném thủ cấp của Trương Thủ Tiết cho người lính. “Quân lính ở gần bản doanh sẽ phản ứng nhanh hơn những nơi còn lại. Chỉ cần nhìn vào thời điểm phóng tên mà có thể đoán ra được vị trí của chúng ta. Tên này là một kẻ cực kỳ lão làng đấy. Nên trừ khử hắn càng sớm càng tốt.”
“Nhưng, sao thầy có thể đánh bại hắn dễ như thế?”
“Ngựa của y là ngựa Tây Lương. Đây là giống ngựa khỏe, có thể phi nước đại rất nhanh. Ngựa Việt không thể đọ được.”
“Thế thì…”
“Tuy ngựa Việt bé hơn, chậm hơn, nhưng lại giỏi leo trèo.”
“Leo trèo?”
“Nước ta có địa hình nhiều đồi núi. Ngựa của ta có thể leo trèo trên đồi và linh hoạt di chuyển ở những nơi đầm lầy. Không giống ngựa phương bắc, chỉ biết phóng trên thảo nguyên bằng phẳng. Không được đánh trên sân nhà, thì ta chỉ cần biến sân nhà địch thành sân nhà mình thôi.”
Với thủ cấp của Trương Thủ Tiết cùng cái chết của các tướng Trương Biện (cái tên bị bắn chết giữa đường), Hứa Dự, Vương Trấn, Nguyên Dụ, viện quân của quân Tống bị hất cẳng toàn bộ.
Nhưng điều khiến tôi để tâm nhất lại là lời nói của Lê Văn Thịnh.
“Chúng ta là người Việt Nam!”
