Ấu Hoàng

Chương 6. Đăng cơ.

 

“Bệ hạ.” Thái sư Lý Đạo Thành đứng bên ngoài điện gọi tôi. “Sắp đến giờ chầu rồi ạ.”

Tôi được người hầu giúp mặc trang phục. Chiếc áo màu đỏ đen mặc bên trong chiếc áo cổn đen thêu họa tiết vàng, quanh cổ áo tròn đính những tua ngọc ngắn. Chiếc đai lưng nạm ngọc siết lấy eo tôi.

Tôi đã thấy phụ hoàng tôi mặc chiếc áo cổn này trong những dịp quan trọng. Giờ đây khoác nó lên, tôi thấy nó thật nặng nề làm sao.

“Có thể… mời Thái sư vào đây không?” Tôi hỏi người hầu. “Các ngươi cứ ra ngoài hết đi. Để ta ở với Thái sư một mình.”

Đám người hầu không nói gì, chỉ nhẹ nhàng hành lễ rồi lui. Ngay khoảnh khắc sau đó, dáng người to lớn vạm vỡ của Thái sư Lý Đạo Thành bước vào và quỳ xuống trước tôi.

“Bệ hạ cho gọi thần.”

“Thái sư, con sợ lắm.” Tôi ngồi phịch xuống trước mặt ông. “Liệu… liệu con có làm được như phụ hoàng con không?”

Thái sư Lý Đạo Thành trố mắt nhìn tôi trong giây lát rồi mỉm cười.

“Nhiều năm về trước, tiên đế cũng hỏi thần câu này.” Lý Đạo Thành nói và đưa tay chạm lên chiếc mũ cổn mười hai lưu vẫn đang nằm trên bàn. Tôi vẫn do dự, không dám bảo người hầu đội lên. “Năm đó, tiên đế mười bốn tuổi, và cũng là lần đầu người cầm quân đánh trận.”

“Con sợ lắm Thái sư.”

“Bước lên ngôi cửu ngũ, là tham vọng của tất thảy người trong thiên hạ. Vậy mà bệ hạ chỉ còn cách nó mấy bước chân lại trở nên sợ hãi ư?”

“Nếu… nếu như con làm không được…”

“Bệ hạ còn nhỏ, chắc chắn không thể làm được.” Câu nói của Lý Đạo Thành khiến tâm trạng tôi như phất cờ.

“Vậy là con có thể…”

“Nhưng chính vì bệ hạ không làm được, nên chúng thần mới ở đây.” Thái sư nói tiếp. “Chúng thần là tay chân, là trâu ngựa cho bệ hạ sai khiến. Và cũng là những người giúp bệ hạ đi đúng trên con đường trở thành bậc hiền quân.”

“Nếu như… con thực sự không muốn đi lên cái ngôi cửu ngũ đó…” Tôi bỏ lửng câu hỏi.

“Thì hạ thần sẽ đập đầu vào cột nhà tự vẫn ngay tại đây.”

“Hả!?” Tôi hoảng hốt la lên. “Có nhất thiết phải…”

“Thần được Thái Tổ chăm nom khi còn bé, được theo hầu Thái Tông nam chinh bắc chiến, được tiên đế hết lòng tín nhiệm. Mấy mươi năm vẫn chưa thể báo đáp được gì, chỉ biết ra sức khuyển mã hầu bệ hạ mà thôi. Nay bệ hạ lại muốn chối bỏ ngôi báu, thần chỉ đành dùng cái chết để tạ lỗi với Thái Tổ, Thái Tông và tiên đế mà thôi.”

“Con bắt buộc phải làm sao?” Tôi nhìn trân trân vào chiếc mũ miện trên bàn.

“Cổn miện rất nặng. Nặng như gánh vác cả giang sơn.” Lý Đạo Thành nâng chiếc mũ miện lên và đội lên đầu tôi.

“Nhưng bệ hạ đừng lo lắng.” Ông nói khi siết dây đeo dưới cằm tôi. “Bệ hạ đã có chúng thần ở đây, san sẻ nỗi lo cùng bệ hạ.”

Tôi bước ra điện Thiên An, nơi ông nội tôi và cha tôi đã ngồi thiết triều suốt hàng chục năm qua. Chiếc áo cổn rất nặng, như ghì thân xác bảy tuổi của tôi xuống đất sau từng bước đi. Những sợi lưu trên mũ miện liên tục đung đưa chực chờ đập vào mặt tôi khiến tôi không thể đi nhanh.

Tôi ngồi lọt thỏm trên chiếc bảo tọa đường bệ mà ba đời nhà tôi đã ngồi. Bên cạnh tôi còn có một chiếc ngai cho Dương Hoàng hậu, bây giờ là Hoàng Thái hậu Thượng Dương. Tôi đã tôn bà (chính xác thì là các quan đại thần tôn dưới danh nghĩa của tôi) là Hoàng đích mẫu nhiếp chính, còn mẹ tôi là Hoàng sinh mẫu, không có quyền dự chính. Trước mặt tôi còn có một chiếc rèm ngăn cách giữa chúng tôi và các vị đại thần.

Tất cả quan đại thần quỳ xuống.

“Thánh thượng vạn tuế vạn tuế vạn vạn tuế!”

“Thái hậu thiên tuế thiên tuế thiên thiên tuế!”

Các bạn biết đấy, hầu hết là tôi ngồi im như phỗng.

Đại khái thì ngày đầu tiên, các quan đại thần dâng tấu truy tôn miếu hiệu cho phụ hoàng tôi là Thánh Tông, thụy hiệu là Ứng Thiên Sùng Nhân Chí Đạo Uy Khánh Long Tường Minh Văn Duệ Vũ Hiếu Đức Thánh Thần Hoàng đế. Tính từ ngày tôi đăng cơ và tế cáo trời đất ở sân rồng sẽ là năm Thái Ninh thứ nhất.

Tiếp sau đó là đủ thứ chuyện khác như cúng tế, chôn cất linh cữu tiên hoàng, gửi sứ nhà Tống… Và tôi chẳng nói gì ngoài “miễn lễ”, “chuẩn tấu” và cuối cùng là “bãi triều”.

Cuối buổi chầu, Thái úy đề xuất ý kiến lập Hoàng hậu.

“Thái úy này,” Cuối cùng tôi đành lên tiếng. “trẫm mới bảy tuổi, ờm, chuyện này có hơi…”

“Bệ hạ, Hoàng hậu là người sẽ ở bên cạnh bệ hạ, là người quản lý cả hậu cung và có tầm quan trọng không thể đong đếm trong việc ổn định triều cương.” Thái sư Lý Đạo Thành cất lời. “Lập hậu sớm cũng sẽ giúp người ổn định việc nhà, an cư lạc nghiệp.”

Có một số vấn đề như này. Tiên đế trao cho hai vị này quyền điều hành quốc gia, hỗ trợ tôi, cho đến khi tôi đủ khả năng tự mình chấp chính. Nhưng thân xác cha tôi chưa lạnh, họ đã quay sang đá vào chân nhau. Lý Thường Kiệt thì ủng hộ mẹ tôi, Thái phi Ỷ Lan nhiếp chính. Còn Lý Đạo Thành thì muốn Hoàng hậu nhiếp chính. Quyền lực trong triều thì nằm gọn trong tay Thái sư Lý Đạo Thành và Thái hậu Thượng Dương. Còn binh quyền thì nằm trong tay Thái úy Lý Thường Kiệt. Lý Đạo Thành thì muốn học theo nhà Tống, cho quan văn dẫn binh, Thái úy thì cãi rằng chính vì như thế nên nhà Tống chẳng có được bao nhiêu tướng tài. Quan lại trong triều cũng chẳng biết giải quyết thế nào với hai người này. Tuy nhiên, phần lớn thì ủng hộ Lý Đạo Thành.

Lý do hả?

Vì có một số lời đồn về mối tình drama như phim Hàn của tiên đế, Thái hậu và Thái úy. Rồi rộ lên thêm một số lời đồn về việc Thái úy không ủng hộ để Thái hậu nhiếp chính là vì tư tình riêng. Thêm vào đó, Thái hậu Thượng Dương có gia tộc hậu thuẫn, còn mẹ tôi thì… chắc hậu thuẫn của mẹ tôi chỉ có bác bán cá, cô thợ dệt ở quê hồi bà còn đi hái dâu.

Thế đấy, tôi ngồi ở giữa, chẳng biết làm sao.

“Nhưng trẫm còn quá nhỏ.” Tôi lên tiếng.

“Không thể lo được việc trong nhà, làm sao dám quản cả thiên hạ?” Lý Thường Kiệt cao giọng.

“Thái úy,” Thái hậu Thượng Dương lên tiếng.

“Thần phạm thượng.” Lý Thường Kiệt quỳ xuống. “Xin bệ hạ trách phạt.”

“Không sao,” Tôi xua tay. “Thái úy cũng là vì lo cho trẫm. Về việc này, trẫm sẽ xem xét.”

Sáng ngồi làm bù nhìn cho các quan lại và Thái hậu, sau đó lại đến học ở Văn Miếu. Sau này, để chạy thoát khỏi những buổi chầu buồn chán, tôi viện cớ cần chú tâm vào việc học để chuồn sớm trong khi nhóm người lớn tiếp tục buổi chầu.

“Hả? Đổi thầy?” Tôi ngơ ngác ở trước cửa Văn Miếu. Sư phụ tôi đang từ từ bước ra với tay nải trên vai, đang trò chuyện với một vị tăng trạc tuổi.

“A di đà Phật.” Thông Huyền chân nhân vái tôi. “Bệ hạ, bần tăng và Thánh Tông Hoàng đế là đông môn. Nay tiên đế băng, bần tăng phải về chùa Khai Quốc cầu cho linh hồn của Thánh Tông. Đồng thời kế nghiệp Thánh Tông và Thảo Đường sư phụ, làm trưởng môn phái Thảo Đường.”

“Sư phụ…” Tôi chắp tay vái ông. “Sư phụ vất vả rồi.”

“Tiên đế từng kể với bần tăng, bệ hạ là thần tiên giáng trần. Bệ hạ thông minh lanh lợi, bần tăng thẹn tài cán không đủ, không có khả năng để dạy bệ hạ. Bệ hạ muốn trở thành bậc minh quân, ngoài Phật pháp còn cần cả sách Nho nữa.”

“Con hiểu.” Tôi gật đầu. “Sư phụ định…”

“Bần tăng khi trước đi Tây Trúc cầu đạo, có kết thân với hai người bạn.” Ông đưa tay về phía vị hòa thượng bên cạnh. “Vị đây là Giác Hải, húy là Nguyễn Viết Y. Trước khi xuất gia hành nghề chài, đã đọc và thông hiểu sách Nho. Nhất định sẽ phù hợp hơn bần tăng.”

“Đại sư.” Tôi vái Giác Hải thiền sư.

“Bần tăng xin được dốc chút tài mọn để hầu bệ hạ.”

Và như thế, tôi đổi từ kho A di đà này sang kho A di đà khác.

“Sư phụ không phải môn đồ phái Thảo Đường sao?” Tôi hỏi Giác Hải thiền sư.

“A di đà Phật.” Giác Hải thiền sư vái tôi. “Khác phái nhưng không khác đạo. Đều là người cầu đạo, dẫu đường đi khác nhau, chỉ cần cầu được đạo thì không có chuyện chia rẽ. Ai đúng ai sai, cầu được đạo khắc biết. Bần tăng là môn đồ phái Vô Ngôn Thông, tư tưởng có phần khác với thiền phái Thảo Đường, hy vọng bệ hạ không chê.”

“Thiền cũng chia ra làm các phái khác nhau sao?” Tôi nghĩ cứ ngồi nhắm mắt và suy nghĩ vẩn vơ là thiền chứ.

“A di đà Phật.” Sư Giác Hải lấy bút viết lên những tờ giấy trắng.

“Bắt đầu từ Khương Tăng Hội(*), Đại Việt ta đến nay có ba phái chính.”

“Phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi.” Giác Hải thiền sư bắt đầu giảng. “Dòng này chịu ảnh hưởng của kinh Lăng già, kinh Tượng đầu tinh xá và kinh Phương Quảng Tổng Trì. Mục đích của các thiền sư phái này là giác ngộ và để đi đến giác ngộ đầu tiên họ phải thanh lọc thân tâm, nhà Phật gọi là “giới”. Giới luật đối với các thiền sư Tỳ Ni Đa Lưu Chi được thể hiện ở việc không tham dục, không tham danh lợi, tin ở nghiệp lực, sống bố thí, không chấp trước. Đối với dòng thiền này, Tâm Phật tròn đầy như thái hư, không thiếu không thừa, không rời không tới, không được không mất, chẳng một chẳng khác, không thường không đoạn, không sinh không diệt.”

Tôi ậm ừ giả vờ hiểu.

“Thứ hai,” Giác Hải thiền sư tiếp tục viết.

“phái Vô Ngôn Thông. Dòng thiền này gần gũi với đời sống xã hội, hòa nhập vào đời sống người dân trong khi vấn đề tâm linh vẫn giữ sự độc lập riêng. Tăng sư bổn phái nhấn mạnh giáo pháp “vô đắc”, chủ trương giác ngộ ngay tức khắc, gọi là “đốn ngộ”. Nói cách khác, chúng tăng ni sử dụng biện pháp tu chứng, tự cá nhân nhận thức thế giới bằng thiền định, “đạt ngộ” thì tâm là Phật, Pháp cũng là Phật. Vì vô đắc nên chúng thần thường nhập thế, gần gũi chúng dân.”

“Nói như thế, chẳng phải trừu tượng quá sao?” Tôi hỏi. 

“Trừu tượng?” Giác Hải thiền sư chau mày.

“Ý con muốn hỏi là, rốt cuộc, vô đắc là gì?”

“Vô đắc, nhấn mạnh về sự giác ngộ. Sự giác ngộ không thể được ai trao cho. Chỉ có mình mới có thể tự giành lấy.”

Đến đây thì tôi hiểu được đại khái rồi. Về cơ bản, ngay từ kiếp trước tôi đã chẳng mặn mòi gì với mớ Phật pháp giáo điều này. Đến cả quyển sách Giáo Dục Công Dân lớp 10 tôi còn chẳng kham nổi nữa là.

“Cuối cùng, thiền phái mới được lập gần đây. Phái Thảo Đường.”

“Thánh Tông Hoàng đế lập ra dòng thiền này sau khi đón Thảo Đường thiền sư về làm Quốc sư. Tương tự như phái Vô Ngôn Thông, phái Thảo Đường cũng yêu chuộng thi ca. Lại có sự giao thoa giữa Nho và Phật. Nhưng cũng vì trọng trí thức và văn chương mà phái Thảo Đường chỉ ảnh hưởng tới một số tri thức có khuynh hướng văn học.”

Giác Hải thiền sư nhìn tôi chòng chọc.

“Thánh Tông Hoàng đế sáng lập phái Thảo Đường như một cách tổng hợp cả Nho và Phật, cả văn hóa dân gian của Trung Hoa, cả Đại Việt, Tây Trúc và Chiêm Thành. Chính vì thái độ cởi mở với cái mới trân trọng cái truyền thống, Thánh Tông Hoàng đế mới có thể trở nên vĩ đại như thế. Bệ hạ có hiểu điều đó nghĩa là gì không?”

“Là sự cởi mở, sự giao thoa và lòng đức độ. Ngoài Phật pháp và văn hóa, còn mang ý nghĩa ngoại giao, con nói đúng không?”

Và thời gian cứ thế thấm thoát trôi…

(*) Khương Tăng Hội: Sơ Tổ thiền học Việt Nam, sống vào thời Tam Quốc.

 

back top